PDA

View Full Version : thủ thuật win


xuly01
05-05-2007, 01:24 PM
Tinh chỉnh Windows XP sau khi cài đặt SP2


Là một hệ điều hành được ưa chuộng nên không có gì khó hiểu khi Windows XP đang bị biến thành một môi trường thi thố tài năng của các tay tin tặc trên thế giới và mỗi khi họ tìm ra được một khiếm khuyết nào đó thì cũng là lúc chúng ta phải củng cố lại hệ thống máy tính của mình.

Để hệ thống Windows ngày càng ổn định và an toàn hơn, năm 2003 Microsoft phát hành bản sửa lỗi Service Park 1 tập trung khắc phục mọi sơ hở trong các phần mềm tiện ích đi kèm trong Windows. Bản Service Park 2 (SP2, find.pcworld.com/43020) phát hành gần đây tập trung nâng cao mức độ an toàn và ổn định cho Windows khi kết nối vào Internet thông qua một số cải tiến, bổ sung như: Nâng cấp phần mềm tường lửa có sẵn trong Windows; Bổ sung chức năng kiểm soát cửa sổ pop-up cho trình duyệt Internet Explorer (IE); Tập trung các giao diện kiểm soát chế độ an toàn hệ thống vào một cửa sổ duy nhất có tên là Security Center trong Control Panel. Những tính năng mới này có tác dụng như thế nào và khai thác chúng ra sao để máy tính của chúng ta vững vàng hơn trong môi trường Internet?



Hình 1: Rà soát trạng thái hoạt động của các tiện ích bảo vệ hệ thống thông qua Security Center của SP2

http://www.pcworld.com.vn/pcworld/info/misc/2004/11/A0410_UD_Hinh1(2).jpg

Bổ sung mới nhất trong bản SP2 cho Windows XP chính là chức năng Security Center bố trí trong Control Panel (xem hình 1). Thật ra Security Center chỉ đơn thuần là một giao diện tập trung để quản lý, theo dõi và cấu hình hoạt động tất cả các phần mềm bảo vệ hệ thống Windows XP như tường lửa (Windows Firewall hay Internet Connection Firewall), cập nhật Windows tự động (Automatic Updates) và cấu hình kết nối Internet. Ngoài ra, Security Center cũng rà soát xem hệ thống đã được cài đặt phần mềm chống vi rút máy tính nào không, tình trạng hoạt động hiện thời ra sao.

Khi một chức năng bảo vệ hệ thống nào đó bị vô hiệu hóa hay một vài chức năng nào đó bị tắt thì màu sắc của biểu tượng Security Center sẽ thay đổi tương tự như tín hiệu đèn giao thông, cùng với dòng cảnh báo bằng văn bản hiển thị ở khay System của thanh Taskbar. Nhưng ngay cả khi biểu tượng hiện màu xanh (an toàn) thì cũng chưa chắc hệ thống đã được bảo vệ an toàn, ngược lại, khi hiện màu đỏ cũng không phải là hệ thống đang trong tình trạng nguy hiểm vì có thể do Security Center không nhận diện được các phần mềm bảo vệ khác đã được cài đặt trong máy tính. Làm thế nào để loại bỏ biểu tượng rắc rối này?

Để bắt đầu, bạn vào Start.Control Panel và nhấn Security Center. Có thể bạn sẽ thấy một dải đèn xanh, đây là thiết lập bảo vệ mặc định của SP2. Firewall giờ được áp đặt cho tất cả kết nối Internet, điều này tốt nếu bạn hiện không dùng trình firewall nào khác. Tính năng Automatic Updates sẽ tải về từ website của Microsoft và cài đặt các bảo mật quan trọng mỗi khi bạn kết nối internet. Tính năng này được kích hoạt mặc định, trừ khi, khi cài đặt bạn cấm SP2. Và nếu bạn có cài trình chống virus mà Microsoft nhận diện được, bạn sẽ thấy đèn xanh ở vùng bảo vệ vi rút.

Tinh chỉnh tường lửa

Phần mềm tường lửa có sẵn trong Windows XP có tác dụng ngăn chặn các loại vi rút máy tính từ bên ngoài tìm cách xâm nhập vào hệ thống máy tính của bạn nhưng nó lại không ngăn chặn được sự liên lạc ra bên ngoài của các vi rút đã chui được vào trong máy tính của bạn. Thêm vào đó, phần mềm này cũng không có khả năng ngăn chặn các vi rút máy tính xâm nhập từ trình duyệt web, thư điện tử, chat... Vì vậy bạn nên dùng các phần mềm tường lửa có đầy đủ các chức năng cần thiết được đề cập trong mục "Các tiện ích bảo vệ hệ thống hữu dụng" (tham khảo thêm bài "Phòng thủ hiệu quả" - TGVT A tháng 6/2004, trang 76). Sau khi cài đặt phần mềm tường lửa, bạn thực hiện thủ tục vô hiệu hóa chức năng tường lửa của Windows trong cửa sổ Security Center như sau: Nhấn chuột vào mục có nhãn Windows Firewall rồi đánh dấu chọn tại mục Off (not recommended), cuối cùng nhấn OK.

Đôi khi Windows không nhận diện được các phần mềm tường lửa của hãng thứ ba cài đặt trong hệ thống nên sẽ hiện cảnh báo về an toàn hệ thống ở vùng khay hệ thống của Taskbar. Thủ tục loại bỏ thông báo "khó chịu" này như sau: Mở cửa sổ Security Center, nhấn chọn Recommendations trong vùng Firewall, đánh dấu chọn I have a firewall solution that I'll monitor myself, cuối cùng nhấn OK (xem hình 2).

http://www.pcworld.com.vn/pcworld/info/misc/2004/11/A0410_UD_Hinh2(2).jpg

Ngoài ra, chức năng Security Center của Windows cũng có thể không nhận diện được phần mềm chống vi rút bạn đang sử dụng và đưa ra những cảnh báo tương tự. Thủ tục loại bỏ như sau: nhấn Recommendations trong vùng Antivirus Protection, đánh dấu chọn I have an antivirus program that I'll monitor myself, cuối cùng nhấn OK.
Sử dụng chức năng Automatic Updates của windows



Hình 3: Tinh chỉnh chế độ Automatic Updates của Windows XP

http://www.pcworld.com.vn/pcworld/info/misc/2004/11/A0410_UD_Hinh3(1).jpg

Trước đây ít có người nào mạo hiểm để máy tính của mình hoàn toàn tự do: tự do kết nối vào Internet, tự động tải về phần mềm, tự động cài đặt phần mềm.... vì làm như vậy vô hình trung "mở cửa" cho các phần mềm vi rút, gián điệp thường trú trong máy tính lợi dụng. Tuy nhiên, thống kê gần đây cho thấy thủ đoạn hoạt động của vi rút máy tính đã thay đổi, đa số vi rút máy tính xâm nhập vào máy tính và liên lạc với bên ngoài thông qua các lỗ hổng bảo mật của Windows hay trình duyệt. Vì vậy việc cập nhật kịp thời các phiên bản sửa lỗi cho Windows và trình duyệt là việc làm thiết thực. Hiện nay đa số các chương trình chống vi rút máy tính đều có sử dụng tính năng này và nhiều người sử dụng cũng đã khai thác tính năng Automatic Updates của Windows để máy tính của mình được cập nhật kịp thời.

Tuy nhiên, chế độ hoạt động mặc định của Automatic Updates chưa thật sự tối ưu, ví dụ như Automatic Updates tự động "thức dậy" vào lúc 3 giờ sáng để cập nhật các phần mềm mới nhưng hiếm khi máy tính được bật vào giờ này. Hoặc có thể bạn muốn tự mình rà soát lại tất cả và quyết định cái nào cần cập nhật, cái nào không... Thủ tục tinh chỉnh chế độ hoạt động của Automatic Updates như sau:


Hình 4: Tùy biến tính năng mới của IE ngăn chặn pop-up

http://www.pcworld.com.vn/pcworld/info/misc/2004/11/A0410_UD_Hinh4.jpg

Vào Start->Settings->Control Panel rồi nhấn đúp vào biểu tượng System, trong cửa sổ System Properties nhấn chọn tab có nhãn Automatic Updates. Nhấn chọn nhãn Automatic (recommended) rồi chọn thời gian máy tính có thể tiến hành cập nhật (xem hình 3). Để kiểm soát những gì máy tính tải về và cài đặt bổ sung thì nhấn chọn Download updates for me, but let me choose when to install them. Nếu kết nối Internet có tốc độ chậm không thích hợp để tải về các tập tin có dung lượng lớn thì nên chọn tùy chọn Notify me but don't automatically download or install them, máy tính sẽ thông báo có bản cập nhật mới phát hành để bạn tự tải về và cập nhật vào máy tính. Cuối cùng nhấn phím OK.

Loại bỏ cửa sổ POP-UP
Kiểm soát được quá trình phát sinh cửa sổ pop-up trong khi duyệt web là một tính năng cần thiết và khá hiệu quả để ngăn chặn việc cài lén chương trình bất hợp pháp hay sửa đổi cấu hình hệ thống nhằm ăn cắp thông tin. Trong khi nhiều trình duyệt web khác đã có tính năng này từ lâu thì cho đến nay trình duyệt IE của Microsoft lại không có.



CÁC TIÊN ÍCH BẢO VÊ HÊ THỐNG HỮU DỤNG




Windows XP sẽ an toàn và ổn định hơn sau khi cài đặt phiên bản SP2, tuy nhiên các phần mềm bảo vệ hệ thống miễn phí sau sẽ giúp máy tính của bạn an toàn hơn nữa.
ZoneAlarm 5: Phần mềm tường lửa có sẵn trong Windows XP có nhược điểm là không kiểm soát được sự chuyển thông tin đi ra từ hệ thống máy tính, do vậy không đủ mạnh để bảo vệ thông tin cá nhân. Zone Alarm của hãng Zone Labs có khả năng bảo vệ an toàn hơn. Phiên bản miễn phí của sản phẩm này chỉ thiếu một vài chức năng bảo mật, còn chức năng tường lửa thì đầy đủ như phiên bản có trả tiền (tải về sử dụng tại địa chỉ find.pcworld.com/42946).
Spybot Search & Destroy 1.3: Phần mềm này ngăn chặn các chương trình gián điệp, quảng cáo xâm nhập hệ thống rất hiệu quả. Phiên bản mới nhất có nhiều cải tiến, sửa đổi quan trọng cho các chức năng như: Phát hiện phần mềm gián điệp theo thời gian thực, kiểm soát chức năng tự động cài đặt của trình duyệt IE, ngăn chặn phần mềm gián điệp thay đổi cấu hình của Windows... (tải về sử dụng tại địa chỉ find.pcworld.com/42654).


Bản cập nhật SP2 cho Windows XP đã bổ sung tính năng này cho IE và kích hoạt nó mặc định. Vì vậy, nếu như sau khi cài đặt bản SP2 bạn thấy hoạt động của trình duyệt IE không giống như trước, nhất là khi duyệt các địa chỉ web sử dụng kỹ thuật pop-up để thu thập thông tin từ người sử dụng, thì nên khai báo lại để IE không ngăn chặn pop-up đối với các địa chỉ này. Thủ tục thực hiện như sau:

Đầu tiên kiểm tra xem chức năng khóa cửa sổ pop-up có hoạt động không: Vào menu Tools->Pop-up Blocker->Turn off Pop-up Blocker. Nếu trình duyệt web hoạt động bình thường thì tiến hành thủ tục khai báo để IE không chặn cửa sổ pop-up đối với địa chỉ web: Vào menu Tools->Pop-up Blocker->Pop-up Blocker Settings. Nhập địa chỉ web vào hộp thoại có nhãn 'Address of Web site to allow', nhấn nút Add (xem hình 4).

Bản SP2 cũng cung cấp thêm cho Outlook Express một chức năng bảo mật khá hấp dẫn. Một số chương trình vi rút máy tính nhúng trong thư điện tử kiểm tra xem máy tính có kết nối với Internet không bằng cách kiểm tra sự hiện diện của một hình nhỏ nhúng trong thư điện tử bằng ngôn ngữ HTML. Để loại bỏ thủ thuật này, mặc định Outlook Express cấm không tải về hình nhúng trong thư điện tử. Vì vậy hình thức của thư điện tử trông sẽ rất xấu. Nếu muốn nó lại hình dạng nguyên thủy ban đầu thì thực hiện thủ tục sau: Vào menu Tools->Options, Security, bỏ dấu chọn tại mục có nhãn Block images and other external content in HTML e-mail, cuối cùng nhấn OK.

Cũng cần nói thêm là phiên bản SP2 của Microsoft vô hiệu hóa luôn dịch vụ Messenger ngay từ đầu để ngăn ngừa bị tin tặc lợi dụng cửa ngõ này đột nhập vào hệ thống.

xuly01
13-05-2007, 11:41 AM
Đã có bao giờ bạn gặp hiện tượng khi mình cố gắng truy cập vào một website bất kỳ nào đó mà bạn biết chắc rằng nó vẫn đang hoạt động tốt, tuy nhiên nó lại không có bất cứ tín hiệu trả lời nào hoặc có vào thì cũng không được suôn sẻ và hoạt động rất chậm chạp, nhưng bất ngờ hơn khi bạn vào trang web ấy trên một máy tính khác thì nó vẫn hoạt động một cách bình thường?

Lúc này bạn nghĩ rằng máy tính của mình gặp phải sự cố nào đấy và bạn đã cố gắng thử kiểm tra các thông số kĩ thuật trên máy tính nhưng bạn thấy rằng chúng vẫn đang hoạt động một cách bình thường.

Thật ra vấn đề bạn gặp phải lúc này có thể là do website mà bạn đã vào chỉ được kích hoạt trong một thời gian ngắn trước khi nó kịp thời gửi lại thông tin cho máy của bạn.

Theo cảm tính của chúng ta khi vào một website nào đấy nếu nội dung của site đó không hiện ra trong một thời gian ngắn thì chúng ta sẽ bỏ qua website đó và cho rằng chúng bị sự cố nào đấy, vấn đề bạn cần biết là ở chỗ Windows được lập trình để đợi sự phản hồi thông tin từ website được truy cập trong thời gian ngắn trước khi nó đưa ra thông báo “Request Timeout”. Nó cũng có thể đưa ra thông báo trên trước khi nhận được thông tin từ website mà bạn viếng thăm gửi đến máy của bạn.

Vậy để khắc phục được vấn đề này bạn nên chỉnh sửa và tăng thời gian chờ phản hồi từ site đến đến máy tính của bạn, cách thực hiện như sau: từ menu Start click chuột vào Run và nhập dòng lệnh Regedit tiếp theo nhấn phím Enter để vào. Sau đó bạn hãy đi theo đường dẫn sau: HKEY_CURRENT_USER\Sofware\Microsoft\Windows\CurrentVerion\ InternetSettings.

Trong đây tại cửa sổ bên phải bạn hãy nhấp phải chuột chọn New => DWORD Value và đặt tên cho khoá vừa tạo là Receive Timeout sau đó bạn hãy nhấp chuột phải vào mục vừa tạo và chọn Modify để thiết lập giá trị mới cho khoá, giá trị mặc định ban đầu là là 5 phút và để tăng giá trị lên 10 phút bạn hãy điền 600000 vào dưới dòng chữ Value data. Sau khi kết thúc các thao tác trên bạn nên khởi động lại máy tính để cho các thay đổi trong Registry bắt đầu có hiệu lực.

xuly01
16-05-2007, 10:00 AM
Bạn thường chọn một trang chủ yêu thích để mở lên mỗi lần truy cập web. Nhưng một lúc nào đó, trang chủ của bạn có thể bị người khác hay khi truy cập vào một trang web độc hại sẽ thay đổi đi, làm bạn phải mất công sửa đổi lại. Chính vì vậy, để không ai hay bất kỳ tác nhân nào khác có thể thay đổi trang chủ, bạn hãy khoá lại bằng cách thực hiện như sau:

- Vào menu Start -> Run, gõ regedit rồi OK.

- Sau đó tìm đến khoá
HKEY_CURRENT_USER\Software\Policies\Microsoft.

- Bấm chuột phải trên mục Microsoft và chọn New -> Key, đặt tên là Internet Explorer.

- Tiếp tục, bấm chuột phải vào mục Internet Explorer và chọn New -> Key, đặt tên là Control Panel.

- Vẫn “bổn cũ soạn lại”, bấm chuột phải vào mục Control Panel và chọn New -> DWORD Value, đặt tên nó là Homepage.

- Sau cùng bấm kép vào mục Homepage và đặt giá trị là 1 trong hộp Value data. Thoát cửa sổ Registry Editor và bây giờ bạn có thể kiểm tra lại tuỳ chọn trang chủ trong IE, bạn thấy gì không? Tất cả đã bị khoá.

Nếu sau này bạn muốn thay đổi lại trang chủ khác, bạn chỉ cần thay giá trị 1 thành 0 (số không) để mở ra mà thôi.

xuly01
16-05-2007, 08:08 PM
Sau khi cài đặt thiết bị phần cứng hay phần mềm mới, Windows XP liên tục khởi động lại, hoặc nhiều thông báo lỗi được đưa ra trên màn hình màu xanh.

Bài này được viết ra nhằm hướng dẫn kiến thức cơ bản cho những người mới bắt đầu hoặc đã làm quen một thời gian nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm về máy tính. Thực hiện theo từng bước bên dưới sẽ giúp bạn hiểu và thao tác dễ dàng.

Triệu chứng của vấn đề

Sau khi cài đặt thiết bị phần cứng hoặc phần mềm mới lên máy tính chạy hệ điều hành Windows XP, bạn sẽ thấy một trong các dấu hiệu sau:

• Máy liên tục khởi động lại.

• Bạn nhận được thông báo lỗi tên màn hình màu xanh.

Các bước giải quyết vấn đề:

Bước 1: Ngắt kết nối tất cả thiết bị phần cứng mới

Nếu bạn vừa cài đặt một thiết bị phần cứng mới, hãy ngắt nó ra khỏi hệ thống, sau đó khởi động lại máy tính. Nếu máy tính trở lại bình thường, liên hệ với nơi cung cấp thiết bị để có được trình điều khiển update phù hợp.

Bước 2: Khởi động Windows XP trong chế độ safe mode

a. Khởi động lại máy tính. Ấn nút F8 nhiều lần nếu thấy màn hình trống.

b. Kích vào Safe Mode, sau đó ấn ENTER.

c. Nếu bạn được nhắc chọn một phiên bản Windows, hãy chọn phiên bản phù hợp và ấn ENTER.

Bước 3: Sử dụng chức năng Rollback Driver (Phục hồi trình điều khiển thiết bị)

a. Khởi động Device Manager. Để thực hiện điều này, vào Start, chọn Run, gõ devmgmt.msc, sau đó ấn OK.

b. Kích đúp vào thiết bị bạn muốn phục hồi trình điều khiển.

c. Kích chọn tab Driver, sau đó ấn chọn Roll back Driver.

Bước 4: Xác định liệu chương trình thuộc nhóm thứ ba có phải là nguyên nhân của vấn đề

Chú ý: Nếu ngắt tất cả các dịch vụ Microsoft, sau đó khởi động lại máy tính, tiện tích System Restore (phục hồi hệ thống) cũng sẽ ngưng hoạt động và bạn sẽ mất tất cả các điểm phục hồi hệ thống đã có. Do đó, không cần phải ngắt tất cả các dịch vụ này khi dùng tiện ích Msconfig khi gỡ rối các vấn đề kết nối.

a. Vào Start > Run > gõ msconfig > OK.

b. Chọn tab General > Selective Starup > loại bỏ tất cả dấu kiểm trên các ô, ngoại trừ Load System Services.

c. Kích chọn tab Services > Hide all Microsoft Services.

d. Ấn OK và khởi động lại máy tính.

Nếu Windows XP khởi động bình thường, tiếp tục với bước 5, nếu không khởi động được, thực hiện bước 6.

Bước 5: Xác định chương trình hoặc tiện ích gây xung đột

a. Vào Start > Run > gõ msconfig > OK.

b. Bấm chọn tab Startup.

Số đối tượng chương trình và tiện ích cần xem xét thường lập thành danh sách. Bạn nên xác định nguyên nhân gây xung đột bằng phương pháp loại trừ:

+ Chọn khoảng một nửa đối tượng trên danh sách, bấm OK.

+ Khởi động lại máy tính.

Chú ý: Nếu Windows XP không khởi động, khởi động lại nó trong Safe Mode.

+ Tiếp tục tiến trình loại trừ cho đến khi xác định được chương trình gây xung đột.

c. Sau khi phát hiện ra, bạn nên loại bỏ chương trình nếu không dùng đến nó, hoặc cấu hình lại một số tuỳ chọn để sao cho nó không cùng lúc với hệ điều hành.

Chú ý: Có thể bạn sẽ cần liên hệ với hãng sản xuất và cung cấp phần mềm để biết thêm thông tin thực hiện cấu hình.

Bước 6: Xác định liệu một dịch vụ thuộc nhóm thứ ba có phải là nguyên nhân của vấn đề

a. Vào Start > Run > gõ lệnh msconfig > OK.

b. Kích chọn tab Services > ngắt hoạt động tất cả các dịch vụ > OK.

c. Khởi động lại máy tính.

Nếu Windows XP khởi động bình thường, thực hiện tiếp bước 7. Nếu không khởi động lại được, thực hiện bước 8.

Bước 7: Xác định dịch vụ gây xung đột

a. Vào Start > Run > gõ lệnh msconfig > OK.

b. Kích chọn tab Services.

c. Cho phép một nửa số dịch vụ trong danh sách hoạt động > bấm OK.

d. Khởi động lại máy tính ở dạng normal mode (chế độ thường).

Chú ý: Nếu Windows XP không khởi động được, khởi động lại máy theo mô hình Safe Mode.

e. Tiếp tục tiến trình cho đến khi xác định được dịch vụ là nguyên nhân gây ra vấn đề. Bạn nên loại bỏ hoặc ngắt hoạt động của dịch vụ này.

Chú ý: Có thể bạn phải liên hệ với người phát triển chương trình để biết thêm thông tin về cách thực hiện ngắt bỏ hoặc ngưng sử dụng.

Bước 8: Khởi động máy tính bằng chức năng Last Known Good Configuration

a. Khởi động máy tính.

b. Khi thấy thông báo “Please select the operating system to start” (chọn hệ điều hành để khởi động), ấn nút F8.

c. Khi menu Windows Advanced Options xuất hiện, dùng phím lên xuống để chọn tuỳ chọn Last Known Good Configuration (your most recent settings that worked) (chọn cấu hình tốt nhất và gần đây nhất), sau đó ấn ENTER.

d. Nếu máy bạn cài nhiều hệ điều hành, dùng phím lên xuống để chọn Microsoft Windows XP, sau đó ấn ENTER.

Chú ý:

• Khi dùng chức năng Last Known Good Configuration, bạn có thể phục hồi hệ thống khi gặp phải vấn đề về cấu hình như các trình điều khiển được cài đặt gần nhất có thể không phù hợp với thiết bị phần cứng của máy tính. Nhưng chức năng này không xử lý được vấn đề có nguyên nhân do thiếu trình điều khiển, thiếu file hoặc do trình điều khiển, file bị hư hỏng.

• Last Known Good Configuration sử dụng thông tin ghi lại sau lần tắt máy gần nhất của bạn. Thông tin này được dùng để phục hồi lại các thiết lập đăng ký và trình điều khiển. Do đó, bạn chỉ có thể dùng thành phần này nếu khởi động được thành công trước khi phục hồi máy.

• Sau khi khởi động lại máy tính bằng cách dùng Last Known Good Configuration, các thay đổi thực hiện ở lần khởi động cuối cùng trước đó sẽ bị mất.

Bước 9: Sửa chữa Windows XP

a. Tắt tất cả chương trình diệt virus và chế độ bảo vệ anti-virus mức BIOS. Để biết thêm thông tin trợ giúp, xem phần hướng dẫn trên phần mềm hoặc phần Hỗ trợ trực tuyến.

b. Thiết lập thiết bị khởi động ưu tiên đầu tiên là CD drive hoặc DVD drive trong BIOS.

c. Đưa đĩa cài Windows XP vào ổ CD hoặc DVD, sau đó khởi động lại máy.

d. Khi lệnh nhắc “Press any key to boot from CD” xuất hiện, ấn một phím để khởi động máy tính từ đĩa Windows XP.

e. Khi máy tính khởi động từ CD-ROM, phần cứng được kiểm tra, sau đó bạn được nhắc chọn tuỳ chọn. Ấn ENTER.

f. Ấn phím F8 để chấp nhận các điều khiển trong hợp đồng bản quyền (Licensing Agreement).

g. Danh sách chương trình cài đặt Windows XP hiện tại được đưa ra. Sau đó bạn được nhắc chọn một tuỳ chọn. Ấn phím R để bắt đầu chương trình tự động sửa chữa. Sau khi Windows XP được sửa, có thể bạn sẽ cần phải kích hoạt lại Windows XP nếu thay đổi một số thiết bị phần cứng.

Bước 10: Sử dụng chức năng System Restore (phục hồi hệ thống)

Cách 1: Nếu Windows XP không khởi động bình thường

a. Khởi động lại máy tính, sau đó ấn F8 liên tục trong quá trình khởi động ban đầu để khởi động máy tính ở trạng thái Safe Mode, sử dụng lệnh trong Command Prompt.

b. Đăng nhập vào máy tính, sử dụng tài khoản administrator (quản trị), hoặc một tài khoản nào đó khác nhưng được uỷ quyền quản trị.

c. Gõ lệnh sau vào cửa sổ lệnh Command Prompt, sau đó ấn ENTER:

%systemroot%\system32\restore\rstrui.exe

d. Thực hiện theo hướng dẫn xuất hiện trên màn hình để phục hồi lại trạng thái máy tính trước đó.

Cách 2: Nếu Windows XP khởi động được bình thường

a. Đăng nhập vào máy, sử dụng tài khoản administrator (quản trị).

b. Vào Start > All Programs > Accessories > System Tools > System Restore. Chương trình System Restore được mở ra.

c. Trên trang Welcome to System Restore, bấm chọn tuỳ chọn Restore my computer to an earlier time. Sau đó ấn Next.

d. Trên trang Select a Restore Point, bấm chọn thành phần muốn phục hồi trên danh sách on this list, click a restore point, sau đó ấn Next. Có thể bạn sẽ nhận được thông báo về các thay đổi cấu hình danh sách sẽ được System Restore thực hiện. Kích OK.

e. Trên trang Confirm Restore Point Selection, kích Next. System Restore phục hồi lại cấu hình Windows XP trong lần sử dụng trước và khởi động lại máy tính.

f. Đăng nhập vào máy tính với vai trò admin. Trang System Restore Restoration Complete xuất hiện.

g. Kích OK.

(Chú ý: Các bước khôi phục này áp dụng cho Microsoft Windows XP Home Edition và Microsoft Windows XP Professional)

xuly01
16-05-2007, 08:13 PM
Bạn có một chiếc USB? Cho dù bạn chỉ thỉnh thoảng sử dụng nó để sao chép tài liệu giữa các máy thì chắc rằng không dưới một lần chiếc USB của bạn đã nhiễm phải virus.

Có lẽ cũng không phải nói nhiều về những phiền toái mà bạn gặp với với những con virus đáng ghét này. Tuy nhiên bạn hoàn toàn có thể hạn chế những vị khách không mời này xâm nhập vào chiếc USB của bạn.

Virus lây qua USB đã trở nên quá phổ biến hiện nay tại Việt Nam, nhất là khi chiếc ổ di động USB đã trở thành vật bất ly thân của đại đa số học sinh, sinh viên, nhân viên văn phòng.. Những con virus này tự động xâm nhập khi bạn cắm USB của bạn vào một máy tính đã bị nhiễm virus.

Và mỗi khi bạn USB này được đưa vào một máy tính khác, virus lợi dung thói quen sơ hở của bạn mỗi khi click đúp vào biểu tượng ổ đĩa USB trong My Computer để xâm nhập. Tại đây chúng tiếp tục nhân bản và phát tán chính mình bằng nhiều đường. Và đương nhiên nạn nhân tiếp theo sẽ là những chiếc USB khác cắm vào máy.

Tại sao virus có thể lây nhiễm qua USB? Là bởi vì virus sao chép chính nó lên USB, và tạo một file Autorun.inf để kích hoạt tính năng Autoplay của ổ đĩa. Mỗi khi bạn click vào để mở USB thì bạn sẽ vô tình chạy chính con virus này. Thêm nữa, chúng khôn khéo đặt thuộc tính ẩn cho chính mình để tránh bị phát hiện.

Làm thế nào để có thể phát hiện ra được USB có virus hay không? Nếu như bình thường bạn mở USB bằng cách click chuột trái vào biểu tượng USB ở My Computer thì hãy thay đổi thói quen đó. Hãy thử click chuột phải vào biểu tượng ổ USB, nếu như bạn thấy có dòng Autoplay được tô đậm ở vị trí trên cùng, có nghĩa là 90% USB đó đã bị nhiễm virus. Bởi vì bình thường thì dòng chữ tô đậm ấy phải là Open hoặc Explorer thay vì Autoplay.

Điều này còn có thể áp dụng với các ổ đĩa cứng, một vài con virus sau khi lây vào máy còn lây vào Autoplay của các ổ cứng. Quá trình lây vào ổ cứng khiến cho virus vẫn có thể được kích hoạt mà không cần phải sao chép vào Start Up, một nơi vẫn thường xuyên được kiểm tra. Tuy nhiên, các virus USB thường tự đặt nó trong trạng thái ẩn, chính vì vậy tốt nhất bạn nên thường xuyên đặt chế độ xem các file ẩn bằng cách vào My Computer -> Tools -> Folder Options.. -> View -> Chọn Show hidden files and folders và bỏ Hide protected system files.

Tự bảo vệ mình như thế chưa đủ. Tốt nhất hãy bảo vệ USB của mình khỏi bị nhiễm virus. Bạn hoàn toàn có thể tự làm được ngay cả khi bạn không phải là một người am hiểu về máy tính.

Thật vậy, nếu như virus lây vào USB của bạn và tìm cách lừa bạn chạy nó qua tính năng Autoplay của USB thì tại sao bạn lại không thử lừa lại nó. Để ý rằng virus USB nào cũng tạo file autorun.inf, vậy thì bạn hãy tạo sẵn file autorun.inf trong USB của mình. Chắc chắn rằng chỉ với bước này bạn đã “qua mặt” được kha khá virus USB rồi.

Nhưng xem ra như thế vẫn chưa đủ, bạn cần phải cấm các con virus thông minh hơn ghi đè file này. Điều này bạn cũng hoàn toàn có thể làm được dễ dàng với USB nếu như bạn chuyển hệ thống file của USB sang NTFS và đặt quyền cấm ghi đè cho file autorun.inf.

Tất nhiên việc chuyển hệ thống files sang NTFS thì USB của bạn sẽ không thể dùng được trên Windows 98/ME, nhưng chắc rằng Windows 98/ME thì cũng không tự động nhận được USB của bạn, hơn nữa Windows 98/ME hiện nay cũng hơi hiếm thấy.

Khi bạn đã sẵn sàng, hãy bắt đầu bảo vệ USB của bạn qua những thao tác đơn giản với Windows XP qua 5 bước sau:

Bước 1: Xác định tên ổ đĩa USB của bạn là gì bằng cách click vào My Computer và xác định ổ USB. Ví dụ như USB của bạn là ổ E: và nhãn là STORAGE

Bước 2: Chuyển đổi hệ thống files sang NTFS bằng cách Click vào Start -> Run, sau đó gõ convert : /FS:NTFS. Ví dụ bạn sẽ phải gõ convert E: /FS:NTFS. Lưu ý, nếu ổ USB của bạn có chức năng ghi âm và nghe nhạc MP3 thì nên bỏ qua bước này. Nếu không, có thể phần mềm chơi nhạc của bạn sẽ không thể chạy các file MP3 được.

Bước 3: Tạo một file autorun.inf với nội dung bất kì, thậm chí để trống cũng được và copy vào thư mục gốc của ổ đĩa USB của bạn.

Bước 4: Click chuột phải vào file autorun.inf bạn vừa tạo và chọn thuộc tính cho file này là read-only, bạn cũng có thể chọn thêm hidden.

Bước 5: Cấm mọi quyền truy xuất vào file autorun.inf bạn vừa tạo bằng cách Click vào Start -> Run, sau đó gõ cacls \autorun.inf /D Everyone. Ví dụ như bạn sẽ gõ cacls E:\autorun.inf /D Everyone

Tất nhiên là không thể nói là an toàn với tất cả các loại virus USB, nhưng phương pháp này cũng phần nào giúp cho USB của bạn an toàn trước đại đa số chuyên lây qua USB hiện nay. Và hơn hết, hãy cài lên máy của mình một chương trình diệt virus đáng tin cậy, đặc biệt nên có tính năng tự động cập nhật thường xuyên. Chúc bạn thành công.

2 lúa đi xe hơi
17-05-2007, 07:18 AM
Bạn có thể cài Windows và Vista trên cùng 1 máy theo 2 cách dưới đây:
1. Đầu tiên bạn cài Windows XP, sau đó bạn vào XP để cài Windows Vista - lưu ý là bạn bắt buộc phải cài Windows Vista vào phân vùng NTFS và không được cài đè vào thư mục của Windows XP – từ đĩa DVD. Chương trình cài Vista sẽ tự động dò tìm hệ điều hành đang có trên máy để tạo menu Dual boot. Cài 2 Windows theo cách này đơn giản hơn nhưng mỗi khi có 1 hệ điều hành bị trục trặc thì việc cài lại phức tạp hơn và dễ có nguy cơ phải cài lại cả 2 Windows. Muốn xóa bớt 1 Windows cũng không đơn giản chút nào.
2. Bạn dùng Partition Magic tạo 2 partition trong vùng Primary rồi lần lượt active từng partition để cài từng hệ điều hành (khi một partition được active thì partition còn lại sẽ tự động ẩn) như cài trong 2 máy khác nhau. Sau đó, bạn cài Boot Magic (có trong bộ Partition Magic) trong 1 partition FAT của vùng Extanded để tạo menu Dual boot hay chạy Pqboot.exe (cũng có trong bộ Partition Magic) để chỉ định partition khởi động trong môi trường DOS. Tham khảo trang Web http://www.echip.com.vn/echiproot/html/2006/305tt/hoidap.html để biết thêm thông tin.
Cài 2 Windows theo cách này thì phức tạp hơn, khi cần chuyển qua lại 2 hệ điều hành cũng mắc công hơn nhưng bù lại 2 Windows sẽ hoàn toàn độc lập không ảnh hưởng lẫn nhau và việc cài đặt cũng như xóa từng hệ điều hành rất dễ dàng.
LÊ HOÀN

xuly01
22-05-2007, 02:11 PM
Một số phương pháp dễ dàng và nhanh gọn để thuần phục Windows,… từ việc hiệu chỉnh tốc độ đến kiểm tra bảo mật hay các thủ thuật giải quyết hỏng hóc.

1. Làm xuất hiện lại cây thư mục:

Bạn mở một folder, nhưng không có thấy cây thư mục nào xuất hiện bên trái cửa sổ cả. Bạn chỉ cần click lên biểu tượng Folders nằm trên thanh công cụ chuẩn (Standard Toolbar) nếu bạn sử dụng Windows 2000, Me, XP, hoặc chọn Menu View, Explorer Bar, Folders.

2. Tùy biến ở dạng Details, phần 1:

Để thay đổi thứ tự của các cột Name, Size, Type, Date Modified, và những cột khác trong cửa sổ duyệt tập tin ở dạng Details, bạn chỉ cần đặt con trỏ chuột lên đầu mỗi cột và kéo qua trái hoặc phải tùy bạn.

3. (2K, ME, XP) Tùy biến ở dạng Details, phần 2:

Tại sao chúng ta lại để các cột được hiển thị theo mặc định của Windows? Nếu muốn thay đổi, bạn chỉ cần nhấp phải chuột lên vị trị bất kỳ ở đầu cột, và chọn một mục trong trình đơn chưa được đánh dấu để thêm cột chứa thông tin đó, ngược lại bạn sẽ gỡ bỏ đánh dấu để bỏ đi cột tương ứng. Chọn More trên trình đơn hiển thị khi nhấp chuột phải (có thể dùng View, Choose Columns hay View, Choose Details trên trình đơn chính) để tùy biến thông qua hộp thoại.

4. Hiển thị cửa sổ lớn hơn:

Bất kỳ khi nào bạn muốn xem nhiều thông tin hiển thị hơn về một folder hoặc trình duyệt Internet Explorer trên một màn hình, cách đơn giản là bạn nhấn phím F11 để xem cửa sổ đó ở chế độ toàn màn hình. Nhấn F11 nếu muốn xem lại ở chế độ bình thường. Nếu sử dụng Windows 2000, Me, hoặc XP, bạn có thể thêm một nút nhấn để chuyển đổi giữa 2 chế độ bằng cách nhấp phải chuột ở Standard Toolbar và chọn Customize. Nhấn Full Screen ở bên dưới Available Tollbar buttons, sau đó chọn Add rồi nhấn Close.

5. Ẩn cây thư mục tự động:

Ở chế độ toàn màn hình, bạn có thể làm cho cây thư mục (hoặc bất kỳ tùy chọn nào thông qua View, Explorer Bar) biến mất để bạn có được một vùng quan sát rộng hơn, và cho xuất hiện lại khi bạn rê chuột đến cạnh bên trái của màn hình. Nhấn lên nút pushpin (xem hình 1) ở đỉnh của khung bên trái cửa sổ để Explorer Bar không còn cố định vào cửa sổ nữa và di chuyển chuột về phía phải màn hình để ẩn nó.

6. Hiển thị các tập tin ẩn:

Bình thường, windows giấu nhiều tập tin hệ thống, điều này có thể làm cho việc chỉnh sửa trở nên khó khăn. Để thấy hết tất cả các tập tin, chọn Tools, Folder Options, View trong bất kỳ cửa sổ thư mục hay Explorer nào. Trong danh sách Advanced settings, chọn Show hidden files and folders (hoặc Show all files nếu trong Windows 98). Trong những phiên bản khác với Windows 98, bỏ dấu đánh đấu trước nhãn Hide protected operating system files (Recommended). Nhấn Yes và sau đó là OK.

7. (2K, ME, XP) Mở rộng cửa sổ thư mục:

Nếu cửa sổ thư mục của bạn có một cửa sổ con ở bên trái dùng để liên kết với các tài nguyên hoặc các tác vụ khác mà bạn không bao giờ sử dụng. Muốn có tầm nhìn lớn hơn khi hiển thị các tập tìn và thư mục bạn chọn Tools, Folder Options, Use Windows Classic Folders, OK. Thực hiện xong các động tác này thì Explorer Bar và shortcut của các “common task” sẽ không hiển thị nữa.

8. (XP) Xem được nhiều Thumbnail hơn:

TTO - Bạn có thể điều chỉnh sao cho hiển thị nhiều biểu tượng hơn ở khung bên phải trong cửa sổ Explorer khi xem ở chế độ Thumbnails, bằng cách làm ẩn các tên xuất hiện bên dưới các biểu tượng đi. Nhấn lên một thư mục khác trong khung chứa cây thư mục để thay đổi chế độ hiển thị, sau đó giữ phím Shift khi chọn trở lại thư mục cũ, khi đó các tên xuất hiện bên dưới các biểu tượng sẽ không được hiển thị.

9. (XP) Đưa thư mục đến thanh tác vụ:

Nếu bạn thích khung tác vụ trong cửa sổ Explorer nhưng muốn hiển thị các tác vụ đó khi hiển thị với phù hợp với nội dung của thư mục. Nhấp chuột phải lên biểu tượng nằm bên góc trên bên trái của cửa sổ, chọn Properties, Customize và chọn những mô tả thích hợp nằm ở phía dưới nhãn Use this folder type as template.

10. Xem dung lượng ổ đĩa:

Bạn có thường tự hỏi làm thế nào để xem dung lượng ổ đĩa bạn đang dùng hoặc dọn dẹp nó? Rất đơn giản, bạn nhấp phải chuột lên biểu tượng của ổ đĩa muốn xem trong cửa sổ Explorer (dưới My Computer) và chọn Properties. Bạn sẽ thấy một Biểu đồ hình tròn hiển thị dung lượng sử dụng của ổ đĩa. Có một nút để hiện thị tiện ích Disk Cleanup, và một the Tools liệt kê ra các tiện ích bảo trì khác.

11. (XP) Dồn đĩa, phần1:

Nếu ổ đĩa của bạn được định dạng theo NTFS, bạn có thể nén các tập tin và thư mục lại để tận dụng không gian đĩa. Chọn các tập tin hoặc thư mục mà bạn muốn nén, nhấp chuột phải lên chúng và chọn Properties. Trên thẻ General, chọn Advance. Đánh dấu lên mục Check Compress contents to save disk space và nhấn OK. Bạn có thể bị yêu cầu chỉ ra những tập tin và thư mục cần đưa vào.

12. (XP) Tự động mở CD theo nội dung:

Khi bạn chèn một đĩa CD vào ổ đĩa CD-ROM, Windows sẽ đưa ra một số hành động để bạn lựa chọn. Bạn có thể trả lời một lần cho mỗi loại nội dung (như âm nhạc), nhưng nếu bạn muốn tắt chức năng này, nhấp phải chuột lên ổ đĩa CD trong cửa sổ Explorer và chọn Properties, ở trong thẻ AutoPlay, chọn một nội dung từ danh sách các loại nội dung ở phía trên, và chọn hành động thích hợp tho ý bạn bên dưới. Để tắt chức năng này đối với loại nội dung nào bạn chỉ cần chỉ định cho nội dung cho nó bên dưới là Take no action và nhấn OK.

13. (XP) Dồn đĩa, phần 2:

Để nén toàn bộ một phân vùng NTFS trên đĩa cứng, nhấp phải chuột lên biểu tượng của ổ đĩa trong cửa sổ Explorer và chọn Properties. Đánh dấu chọn lên mục Compress drive to save disk space, sau đó nhấn OK hoặc Apply. Khi đó sẽ xuất hiện yêu cầu xác nhận, tại đó bạn chọn nén tất cả các thư mục con và tập tin (không chỉ trong thư mục gốc) và nhấn OK.

14. (ME, XP) Dồn đĩa, phần 3:

Bạn cũng có thể nén các tập tin một cách tự động bằng cách đưa chúng vào thư mục đã được nén. Để tạo thư mục này, đơn giản bằng cách nhấn phải chuột ở bất kỳ cửa sổ thư mục nào hay trên màn hình desktop, chọn New, Compressed Folder (trong Windows Me) hoặc New, Compressed (zipped) Folder (trong Windows XP). Nếu bạn không thấy chức năng này, thì nên kiểm tra lại để chắc rằng nó đã được cài đặt.

15. (XP, 2K) Chọn tên cho ổ đĩa:

Nếu bạn muốn đặt lại tên tên của các ổ đĩa, hãy đăng nhập vào Windows với quyền quản trị (Administrator), chọn Start, Run, nhập lệnh diskmgmt.msc và nhấn Enter. Nhấp phải chuột lên một ổ đĩa phía dưới của cửa sổ và chọn Change Drive Letter and Path. Chọn Edit hoặc Change, lựa một trong những ký tự đặt tên chưa được sử dụng từ danh sách, nhấn OK, trả lời mọi nhắc nhở xác nhận, và nhấn OK lần nữa.

xuly01
24-05-2007, 08:15 AM
16. Bảo mật là trên hết

Tin vào bạn bè, nhưng giữ lại các thẻ. Tin vào trí nhớ của mình, nhưng bạn phải luôn giữ bên mình đĩa thiết lập lại password cho trường hợp bạn quên Password của Windows XP. Đầu tiên, bạn phải có một đĩa mềm trống đã được định dạng, và nhập Control Panel\ User Accounts vào thanh Address của cửa sổ Explorer hoặc Internet Explorer.

Nhấn Enter, lựa Account của bạn, nhấn Prevent a forgotten password trong danh sách Related Tasks, và sau đó thực hiện các bước được mô tả cụ thể trong Forgtoten Password Wizard.

17. (XP) Xử lý khi quên password, phần 1:

Nếu bạn không có đĩa thiết lập lại password, đăng nhập vào hệ điều hành với một account quản trị khác, mở User Accounts trong Control Panel (mục 16), chọn account mà bạn quên password, chọn Change the password, và thực hiện các hướng dẫn sau đó để cài lại password.

18. (XP) Xử lý khi quên password, phần 2:

Nếu bạn không có bất kỳ account quản trị nào khác, khởi động lại máy nhấn phím F8 cho đến khi bạn thấy màn hình cho phép chọn chế độ để khởi động (mục 28). Bạn chọn khởi động ở chế độ Safe mode, và nhấn Enter. Khi thấy màn hình Welcome xuất hiện, chọn Administrator (đây là một account ẩn mặc định không cần password). Thực hiện các bước để đặt lại password, khởi động lại máy.

19. (2K, XP) Power User:

Khi bạn đăng nhập vào máy với quyền quản trị, hệ thống của bạn có thể bị tấn công bởi các chương tình Trojan horse hoặc những rủi ro khác. Khi bạn đăng nhập vào máy với quyền Power User, bạn có thể tránh được những rủi ro này và sử dụng được đầy đủ các tính năng của windows (bạn có thể chuyển qua quyền Administrator một cách dễ dàng khi cần thiết, xem phân dưới). Để giảm quyền, bạn chọn Start, Run, nhập lệnh lusrmgr.msc và nhấn Enter. Chọn Groups và nhấn đúp chuột lên Administrators. Nhưng bắt buột bạn phải có một account được liệt kê ở danh sách Members mà bạn có thể dùng khi cần đầy đủ các quyền của người quản trị. Chọn account muốn giảm quyền, chọn Remove, và nhấn OK, Nhấp đúp chuột lên Power Users, nhấn Add, đánh tên Account của bạn, và nhấn OK lần thứ 2.

20. Làm người quản trị không thường xuyên:

Power user không cần phải đăng xuất và đăng nhập trở lại để quay lại với quyền quản trị nhằm chạy những chương trình chỉ thực thi được dưới quyền này. Để làm điều này, giữ phím Shift và nhấn phải chuột lên chương trình có thể thực thi (*.exe) ở cửa sổ Explorer hoặc bất kỳ shortcut nào của nó. Chọn Run as, sau đó lựa Run the program as the following user (nếu trong Windows 2000) hoặc The Following User (trong Windows XP), và nhập vào username, password (chọn domain nều cần) của một account có quyền quản trị, rồi nhấn OK

21. (XP) Chọn hành động cho máy quay:

Lúc đầu khi kết nối một máy quay kỹ thuật số với máy tính của mình, bạn có thể chọn một thao tác và đánh dấu Always user this program for this action để tránh những lời gợi ý sẽ xuất hiện sau này khi kết nối. Nhưng nếu bạn muốn thay đổi thành một hành động khác? Để thực hiện điều này, kết nối lại với máy quay, nhấp phải chuột lên biểu tượng của nó trên cửa sổ Explorer, chọn Properties. Sử dụng các cài đặt hiển thị trong thẻ Events để chọn hành động hệ điều hành sẽ thực hiện khi kết nối với máy quay.

22. (XP Pro) Giữ các bí mật:

Để bảo vệ các tập tin và thư mục có thông tin nhạy cảm trong các ổ đĩa có định dạng NTFS, sử dụng những chương trình mã hoá của Windows. Chọn những tập tin và thư mục không nén để mã hoá, nhấp phải chuột lên chúng, và chọn Properties. Trên thẻ General, chọn Advanced. Đánh dấu vào Encrypt contents to secure data và nhấn OK. Chỉ ra các tập tin và thư mục được thực hiện. Các tập tin và thư mục này chỉ có thể được truy xuất bởi người dùng mã hoá chúng. Để gở bỏ tính năng này, bỏ đánh dấu lên Encrypt contents to secure data. (việc mã hoá này không có ở Windows XP Home).

23. Không hiển thị thông tin cá nhân với người dùng khác:

Bất kỳ người quản trị nào cũng đều thấy các tập tin trên màn hình destop hoặc trong thư mục My documents của bạn, và ngay cả ở thư mục cá nhân của bạn bằng cách tìm trong thư mục Document và Setting. Mẹo này chỉ có tác dụng trên những ổ đĩa có định dạng NTFS. Đầu tiên mở thư mục Documents hoặc Setting, nhấp phải chuột lên thư mục mà bạn muốn giữ riêng, chọn Properties. Nhấn Sharing, đánh dấu lên nhãn Make this folder private, và chọn OK.

xuly01
24-05-2007, 08:22 AM
24. (ME, XP) Quay ngược thời gian:

Khi máy tính của bạn có những hành động khác lạ, bạn hãy sử dụng System Restore để quay lại trạng thái ổn định trước đó. Chọn Start, Programs (All Programs nếu là Windows XP), Accessories, System Tools, System Restore, chọn Restore my computer to an earlier time, Next, và thực hiện theo những hướng dẫn.

25. (ME, XP) Đặt điểm phục hồi cho hệ thống:

Bất kỳ khi nào bạn muốn thay đổi hệ thống, bạn nên tạo một điểm phục hồi hệ thống trước khi bắt đầu để nếu có lỗi thì cũng có thể lấy lại tình trạng này. Mở System Restore như đã mô tả ở mục trước, chọn Create a Restore Point, nhấn Next, và thực hiện theo những hướng dẫn xuất hiện. Lưu ý: tạo điểm phục hồi bằng tay như trên thì không cần thiết trước khi bạn cài đặt phần mềm, cập nhật hoặc cài đặt thiết bị, Windows sẽ làm việc này một cách tự động dùm bạn.

26. (XP) Tùy biến chức năng phục hồi, phần 1:

Để chọn ổ đĩa cho System Restore theo dõi sự thay đổi của hệ thống và cài đặt dung lượng của đĩa được dùng cho việc sao lưu này. Bạn nhấp phải chuột lên My Computer và chọn Properties. Chọn thẻ System Restore, lựa ổ đĩa, nhấn Settings và đặc cấu hình theo ý muốn của bạn.

27. (ME) Tùy biến chức năng phục hồi, phần 2:

Điều chỉnh dung lượng đĩa System Restore sử dụng để sao lưu trong Windows Me thì khác hơn một chút. Nhấp phải chuột trên My Computer, chọn Properties, Performance, File System, và phía dưới Hard disk, bạn kéo thanh trượt System Restore disk space user để chọn dung lượng bạn mong muốn. Lưu ý, nhấn Disable System Restore trong thẻ Troboleshooting của System Properties để tắt chức năng System Restore đi.

28. Tìm giải pháp trong Safe Mode:

Nếu Windows của bạn bị treo hay thực hiện một số hành động không đúng. Khởi động lại máy, và nhấn F8 trước khi vào Windows (bạn có thể nhấn nhiều lần đến khi Windows nhận được yêu cầu này). Khi đó sẽ xuất hiện một trình đơn Advance Options. Sử dụng các phím di chuyển để chọn Safe Mode, rồi nhấn Enter để chạy Windows với một số lượng driver hạn chế. Nếu gặp may, bạn có thể bỏ đi hành động gây ra lỗi đó và khởi động lại máy.

29. (2K, XP) Phục hồi với Registry:

Nếu bạn khởi động Windows ở chế độ Safe Mode nhưng không giải quyết được các vấn đề gây ra sự cố ở Windows. Bạn cũng truy cập vào trình đơn Advanced Option như mục 28, nhưng chọn Last Known Good Configuration và nhấn Enter. Việc khởi động Windows như thế này sẽ sử dụng phiên bản sau cùng của Registry, đây là phiên bản Windows khởi động thành công. Sẽ không có tập tin nào bị Remove.

30. (2K, XP) Chép các thông báo lỗi:

Khi Windows cảnh báo với bạn là có vài vấn đề rắc rối, không điều khiển được. Nếu bạn muốn giữ lại các lời thông báo này để gởi tới bộ phận kỹ thuật, hoặc các nhân viên sửa chửa. Nhấn Ctrl - C để sao chép các thông báo này vào Clipboard, sau đó mở email gửi đến bộ phận kỹ thuật của bạn, nhấn Ctrl – V để dán nội dung thông báo này vào email, và gửi đi.

31. Chụp ảnh thông báo lỗi:

Nếu bạn không thể lấy được các thông báo lỗi như ở phần trên, nhấn Alt - Print Screen (tên của phím này có thể được viết tắt trên bàn phím của bạn) để ghi lại hình ảnh của hộp thoại thông báo lỗi. Đưa chúng vào email (nếu có hỗ trợ đồ hoạ) hoặc vào trong công cụ xử lý văn bản. Bạn có thể dán nó vào trong tiện ích xử lý ảnh Paint của Windows bằng cách mở chương trình này và chọn Edit, Paste. Lưu hình này dưới dạng tập tin ảnh gif hoặc bmp,… tùy bạn. Sau đó đính kèm tập tin này vào email rồi gởi đi.

32. Tìm giúp đỡ trong Google Groups:

Để tìm sự giúp đỡ trên mạng, bạn nhập vào vài từ hay tất cả từ trong thông báo lỗi của Windows vào trong ô nhập liệu của màn hình tìm kiếm chính của Google. Nếu chúng cũng không giúp đỡ được bạn sửa lỗi này, nhấn chọn thẻ Groups trên trang hiển thị kết quả tìm kiếm của Google bạn có thể tìm thấy các thảo luận có liên quan đến vấn đề của bạn

xuly01
24-05-2007, 08:31 AM
33. (XP) Cho Windows tự cài đặt mạng:

Bước đầu tiên bạn phải kết nối các máy lại thành một mạng, các bước trong Windows XP’s Network Setup Wizard sẽ giúp bạn một cách chi tiết. Để chạy được wizard này bạn chọn Start, Run, đánh lệnh netsetup và nhấn Enter.

34. (XP) Thiết lập mạng không dây:

Khi bạn cắm một thiết bị mạng không dây vào máy tính, Windows XP sẽ hiển thị hộp thoại Connect to Wireless Network. Nếu nó không xuất hiện, bạn nhấp phải chuột lên biểu tượng wireless – network ở khay hệ thống, và chọn View Available Wireless Networks. Nếu bạn không thấy xuất hiện biểu tượng này ở khay hệ thống, bạn vào cửa sổ Explorer trên thanh Address nhập vào Control Panel\ Network Connections, và nhấp phải chuột lên biểu tượng Wireless Network Connection. Chọn kết nối không dây và nhấn Connect.

35. (XP) Nối đến mạng không dây không an toàn:

Nếu nút Connect bị vô hiệu hóa (có màu xám) ở hộp thoại Wireless Network Connection, lúc đó mạng có thể không có tính năng an toàn Wired Equivalent Privacy hoặc tính năng này mới hơn Wi-Fi Protected Access. Để bỏ qua chức năng này bạn đánh dấu vào Allow me to connect to the selected wireless network, even though it is not secure(xem hình 3). Nên nhớ rằng việc làm này của bạn có thể làm bạn gặp phải một số rủi ro.

36. (XP) Tự cấu hình mạng không dây:

Thông thường Windows cấu hình mạng không dây cho bạn tự động (nó được gọi là Wireless Zero Configuration), nhưng nếu thiết bị không dây có driver riêng cho nó, bạn cần phải tắt tính năng này của Windows đi. Để làm điều này, nhấn đúp chuột lên biểu tượng Wireless Network Connection của cửa sổ Network Connection (mô tả ở mục 34), hoặc nhấn lên biểu tượng được thu nhỏ ở khay hệ thống, Chọn Properties, và trong hộp thoại Wireless Network Connection Properties , nhấn lên Wireless Networks. Bỏ đánh dấu ở Use Windows to configure my wireless network settings và nhấn OK(xem hình 4).

37. (XP) Chuyển nhanh giữa các tài khoản:

Nếu máy của bạn có đủ vùng nhớ, bạn có thể chuyển qua lại giữa các tài khoản mà không cần phải log off ra khỏi account đang sử dụng. Để làm điều này bạn nhấn Start, Log off, Switch User. Điều này giúp tiết kiệm thời gian khi chỉ cần một số thao tác nhỏ có thể chuyển qua một tài khoản khác. Nhưng bạn đừng nên tạo ra thói quen này vì nó sẽ làm cho hệ thống của bạn chậm, đặc biệt khi bạn đang chạy những chương trình lớn chẳng hạn như Game, các tiện ích hệ thống, và ứng dụng khác.

38. (XP) Vô hiêu hóa chức năng chuyển nhanh giữa các tài khoản người dùng:

Có một số nhược điểm khi thực hiện Fast User Switching. Với đặc điểm này bạn sẽ không thể sử dụng được chức năng Offline Files của Windows, chức năng này là chức năng tự động download các trang web để bạn xem ngoại tuyến. Để tắt chức năng Fast User Switching, bạn vào cửa sổ Explorer hoặc Internet Explorer và nhập vào Control panel \ Use Accounts ở thanh Address , sau đó nhấn Enter. Nhấn chọn Change the way users log on or off, bỏ đánh dấu ở mục User Fast User Switching và cuối cùng nhấn Apply Options.

39. (XP) Vô hiệu hóa tài khoản thay vì xóa chúng:

Nếu một người đi xa không sử dụng tài khoản của họ, đừng nên xoá tài khoản đó đi vì lý do bảo mật. Sau này, khi tạo lại tài khoản với tên như vậy, nó sẽ không có đầy đủ quyền như trước nữa, cũng như nó không cho truy cập vào các tập tin mã hóa trước đó(xem mục 22). Nếu bạn cho là những người này có thể sử dụng lại những tài khoản đó, bạn có thể vô hiệu hoá các tài khoản này thay vì xoá nó đi (nên nhớ rằng chức năng này không sử dụng được cho Windows XP Home): nhấn Window-R, gõ lệnh lusrmgr.msc và nhấn Enter. Chọn vào biểu tượng của thư mục Users, và nhấn đúp chuột lên tên của người dùng tài khoản mà bạn muốn vô hiệu hoá. Đánh dấu lên Account is disabled và nhấn OK(Xem hình 5), để phục hồi tài khoản này đơn giản bạn chỉ cần bỏ đánh dấu đi.

40. (XP) Cứu tập tin từ một tài khoản bị xóa:

Nếu bạn chắc chắn rằng sẽ không cần tài khoản đã đề cập ở trên nữa, bạn có thể xóa nó đi nhưng vẫn giữ lại các tập tin trong thư mục cá nhân. Đầu tiên, bạn đăng nhập vào Windows với quyền quản trị, ở thanh Address của cửa sổ Explorer hoặc Internet Explorer nhập vào Control Panel\User Accounts và nhấn Enter. Tiếp theo chọn tên tài khoản muốn xoá, chọn Delete the account, nhấn Keep Files, và cuối cùng chọn Delete Account. Mặc dù tài khoản đã bị xoá đi nhưng tất cả các tập tin ở màn hình desktop, và thư mục My Documents sẽ được đặt trong một thư mục mới trên desktop của tài khoản người quản trị, nhưng hãy nhớ rằng tất cả các email hoặc các cài đặt khác ứng với tài khoản trên sẽ bị mất đi vĩnh viễn.

41. (XP) Run your ancient apps (XP):

Nếu có một ứng dụng thuộc phiên bản trước không chạy được trên Windows XP (và bạn không có một bản cập nhận nào của phần mềm này), nhấp phải chuột lên biểu tượng shortcut của chương trình này và chọn Properties. Chọn Compatibility, Run this program in compatibility mode for, và chọn phiên bản Windows thích hợp (xem hình 6), nhấn OK. Cảnh báo an toàn: đừng bao giờ chạy một chương trình diệt virus, một chương trình dồn đĩa, hoặc bất kỳ ứng dụng tiện ích nào dưới một phiên bản của Windows mà không dành cho nó. Việc này có thể làm hỏng hệ thống.

42. Sửa các uninstraller bị hỏng:

Nếu bạn muốn gỡ bỏ một chương trình nào đó bằng cách sử dụng Add or Remove Programs trong Control Panel, nhưng chương trình uninstaller không chạy, nguyên nhân là do một số hoặc tất cả các tập tin của nó đã bị xoá. Đơn giản bạn chỉ cần cài đặt lại chương trình đó vào đúng thư mục củ và sử dụng Add or Remove Programs lại để gỡ nó ra.

43. Cập nhật driver cho card đồ họa:

Có nhiều trục trặc phổ biến trong Windows được tìm ra nguyên nhân là do những lỗi của các driver của card đồ hoạ gây ra, có thể các driver này bị hỏng, hoặc lỗi thời. Nếu bạn không tìm ra cách giải quyết các vấn đề này, bạn nên vào trang web của hãng sản xuất ra card đồ hoạ mà bạn đang sử dụng để download về driver thích hợp cho card đồ hoạ của bạn.

44. (2K, ME, XP) Tháo thiết bị an toàn:

Bạn có thể cắm vào và tháo ra các thiết bị ngoại vi (như cameras) mà không xảy ra vấn đề gì. Tuy nhiên có vài thiếc bị khi bạn thực hiện thao tác cắm và tháo, nó sẽ gây ra những rủi ro lớn đến máy vi tính làm ảnh hưởng đến tính ổn định của PC. Chẳng hạn như bạn tháo một card mạng ra từ một máy notebook, hoặc một ổ cứng gắn cắm ngoài, việc này sẽ làm mất dữ liệu, nếu các dữ liệu này vẫn còn đang được truy xuất. Để giải quyết các vấn đề này, bạn cần nhấp phải chuột lên biểu tượng Safely Remove Hardware trên khay hệ thống (đầu tiên có thể bạn cần nhấn vào biểu tượng mũi tên Show hidden icons). Từ trình đơn xuất hiện bạn chọn thiết bị phần cứng cần được tháo ra, lúc này bạn có thể tháo thiết bị ra. Nếu bạn không muốn hiển thị popup-menu bạn có thể nhấp đúp chuột lên biểu tượng Safely Remove Hardware lúc này sẽ xuất hiện một hộp thoại để bạn thao tác. (Còn nữa)

xuly01
24-05-2007, 03:47 PM
update 19/04/2010:

Thế Giới Hoàn Mỹ Online


Yêu cầu cấu hình cho server này là Ram 512 Mb trở lên + Cạc hình on hoặc rời 128Mb + Chíp 2.0GHZ trở lên (nếu thấp hơn sẽ không load được client).
Các bạn down Server (chia làm 8 part) về sau đó dùng chương trình Split để nối lại - > File.rar. Các bạn tiếp tục giải nén -> server full (khoảng 1,2 Gb).
bộ công cụ mình đã update ở page1 server này cần MS sql2k update sp4 + VMware + winscp + secure CRT ai có rùi thì khỏi down nhé:)
cấu trúc sv TGHM khá giống Tru Tiên ( Vì cùng 1 lò TGHM :)) ) nên bạn nào đang dùng win 7 mà ko cài được sql 2k thì có thể lấy cái data sql bên tru tiên mà restore dâta rồi chỉnh ip trong file table.xml nhé :)

Thông tin của Server:
+ Ip của Server này là : 192.168.1.200
+ Đây là bản full 1.36 (Có add thêm item + fix lại 1 số lỗi nhỏ)
Link down cho Ubuntu tích hợp Server full :
Part1 : http://www.mediafire.com/download.php?ttimkj3gj1m
Part2 : http://www.mediafire.com/download.php?mlzynzft0mm
Part3 : http://www.mediafire.com/download.php?mdnzf2um2z1
Part4 : http://www.mediafire.com/download.php?1nwgbtzdmjy
Part5 : http://www.mediafire.com/download.php?nmmlmutydyi
Part6 : http://www.mediafire.com/download.php?ytmjgajnqjm
Part7 : http://www.mediafire.com/download.php?ceyd2djmmec
Part8 : http://www.mediafire.com/download.php?myfwmmbyz4t

Client cho Server này: (Các bạn có thể copy ngoài quán cũng được)
http://dl1.thegioihoanmy.vn:8080/TGHM/Full/PWSetup68b.exe

Đây là link down path Client cho client của DEC (trong path này có file Gshop.data việt hóa 100% có dấu, chỉnh giá KNB như DEC nếu bạn nào thích có thể copy vào trong server) :
Link Path(full) DEC :
http://www.mediafire.com/download.php?0mmdygbdnkk

Đây là file Gshop Việt hóa có dấu cho bạn nào cần :
http://www.mediafire.com/download.php?tzzuwmnzznt
Còn đây là file Gshop.data đầy đủ hơn nhưng Việt hóa không dấu:
http://www.mediafire.com/download.php?zmnymxdjnvd
Các bạn dùng cái nào cũng được nhưng khi copy phải thống nhất giữa Server và Client tránh trường hợp Túi càn khôn không đồng bộ với máy chủ.

+ Các bạn phải đặt IP ảo (hoặc Lan) như sau :

IP Address : 192.168.1.111
Subnet mask : 255.0.0.0
Default gateway : 192.168.1.1
Preferred DNS server : 203.162.0.181
Alternate DNS server : 203.210.142.132
+ User : root và password : thecong
Bạn có thể thay đổi pass cho root bằng cách : Sau khi đăng nhập với User : root và password : thecong, bạn gõ vào dòng lệnh : Sudo passwd root. Sau đó bạn nhập pass mới cho unix và xác nhận bằng Enter. Vậy là bạn có thể thay đổi password cho root.

Bây giờ là phần hướng dẫn cài đặt:
1. Sau khi down server(8 part) về các bạn giải nén chung 1 thư mục -> Bộ Ubuntu đã tích hợp Server TGHM

2. Cài VMware như 1 chương trình bình thường. Next -> Finish nếu máy thông báo đòi restart thì restart lại máy.

3. Cài đặt MSSQL + Update lên SQL SP4
Link tải Hướng dẫn cài đặt SQL + CSDL cho TGHM:
http://www.mediafire.com/download.php?xt4z2mnjj24
Link file SQL restore full cho passport:
http://www.mediafire.com/download.php?zjgmtvdyzkg

4. Khởi động Server : Xong hết các phần trên thì các bạn tiến hành chỉnh cấu hình và chạy server
Bước 1 : Bạn chạy máy ảo VMware vừa cài -> vào file chọn -> Open -> Mở đến Server bạn đã giải nén. Ở đây mình để Ram cho máy ảo là 512Mb và ổ cứng là 4 Gb. Các bạn có thể chỉnh lại tùy theo cấu hình máy của mình.
Sau đó nhấn start máy ảo đợi cho máy ảo chạy đến (....local) thì Enter sau đó đăng nhập với user : root và pass : thecong (hay pass bạn đặt lại cho root)
(Nhớ không được chạy Server vội nhá)

Bước 2 : Vào start -> Run -> ping 192.168.1.200 -t (nếu có kết nối với máy ảo là OK hết nếu không kết nối được thì bạn có thể sửa như sau)
Sau khi bạn đăng nhập bạn gõ vào dòng lệnh:

*nano /*etc/*udev/*rules.d/70-persistent-net.rules*

Sẽ hiện ra 2 dòng (Những dòng có dấu * ở đầu không tính)
Bạn sẽ chuyển dòng dưới đây :

SUBSYSTEM=="net", ACTION=="add", DRIVERS=="?*", ATTR{address}=="00:0c:29:68:9e:a3", ATTR{type}=="1", KERNEL=="eth*", NAME="eth0"


Thành dòng sau (Nhớ không khác tí tẹo nào nhá)

SUBSYSTEM=="net", ACTION=="add", DRIVERS=="?*", ATTR{type}=="1", KERNEL=="eth*", NAME="eth0"

Và bạn hãy xóa bỏ dòng cuối cùng đi (Xóa bỏ cả dòng có dấu * ở đầu cũng được)

Bước tiếp theo bạn nhấn tổ hợp Ctrl + X chọn Y/N(Yes/No) : Y
Enter tiếp -> gõ vào reboot -> máy ảo sẽ tự restart lại

Khi máy ảo chạy đến (.....local) thì các bạn lại
Vào start -> Run -> ping 192.168.1.200 -t
(Lần này chắc chắn sẽ được nếu các bạn làm bước trên đúng)


Vậy là OK. Các bạn chạy Server và chơi thôi
Lệnh chạy : /Server/start.sh
Lệnh tắt : /Server/shutdown.sh
Đây là 2 cái start.sh + shutdown.sh các bạn down về rồi copy vào máy ảo theo đường dẫn "/root/server/"
Link start+shutdown :
http://www.mediafire.com/download.php?yn0zymroymw


Vào IE gõ : http://192.168.1.200/monitor/register.jsp để đăng ký cho mình 1 tài khoản.

hình demo:

http://i600.photobucket.com/albums/tt82/hongtu1/2009-05-1716-40-56.jpg?t=1248155306
http://i600.photobucket.com/albums/tt82/hongtu1/2009-06-0416-40-53.jpg?t=1248155336
http://i600.photobucket.com/albums/tt82/hongtu1/2009-07-0218-38-58.jpg?t=1248155740
http://i600.photobucket.com/albums/tt82/hongtu1/2009-06-0416-58-37.jpg?t=1248155761