Hiện nay ổ cứng gắn trong có 2 chuẩn kết nối thông dụng là IDE và SATA. Khi muốn mua mới hoặc bổ sung thêm một ổ cứng mới cho máy tính của mình, bạn cần phải biết được bo mạch chủ (motherboard) hỗ trợ cho chuẩn kết nối nào. Các dòng bo mạch chủ được sản xuất từ 2 năm trở lại đây sẽ có thể hỗ trợ cả hai chuẩn kết nối này, còn các bo mạch chủ trở về trước thì sẽ chỉ hỗ trợ IDE. Bạn cần xem thêm thông tin hướng dẫn kèm theo của bo mạch chủ mình đang sử dụng hoặc liên hệ nhà sản xuất để biết chính xác được chuẩn kết nối mà nó hỗ trợ.
IDE (EIDE)
Parallel ATA (PATA) hay còn được gọi là EIDE (Enhanced intergrated drive electronics) được biết đến như là 1 chuẩn kết nối ổ cứng thông dụng hơn 10 năm nay. Tốc độ truyền tải dữ liệu tối đa là 100 MB/giây. Các bo mạch chủ mới nhất hiện nay gần như đã bỏ hẳn chuẩn kết nối này, tuy nhiên, người dùng vẫn có thể mua loại card PCI EIDE Controller nếu muốn sử dụng tiếp ổ cứng EIDE.
SATA (Serial ATA)
Nhanh ***ng trở thành chuẩn kết nối mới trong công nghệ ổ cứng nhờ vào những khả năng ưu việt hơn chuẩn IDE về tốc độ xử lý và truyền tải dữ liệu. SATA là kết quả của việc làm giảm tiếng ồn, tăng các luồng không khí trong hệ thống do những dây cáp SATA hẹp hơn 400% so với dây cáp IDE. Tốc độ truyền tải dữ liệu tối đa lên đến 150 - 300 MB/giây. Đây là lý do vì sao bạn không nên sử dụng ổ cứng IDE chung với ổ cứng SATA trên cùng một hệ thống. Ổ cứng IDE sẽ “kéo” tốc độ ổ cứng SATA bằng với mình, khiến ổ cứng SATA không thể hoạt động đúng với “sức lực” của mình. Ngày nay, SATA là chuẩn kết nối ổ cứng thông dụng nhất và cũng như ở trên, ta có thể áp dụng card PCI SATA Controller nếu bo mạch chủ không hỗ trợ chuẩn kết nối này.
Bạn có thể yên tâm là các phiên bản Windows 2000/XP/2003/Vista hay phần mềm sẽ nhận dạng và tương thích tốt với cả ổ cứng IDE lẫn SATA. Tuy vậy, cách thức cài đặt chúng vào hệ thống thì khác nhau. Do đó, bạn cần biết cách phân biệt giữa ổ cứng IDE và SATA để có thể tự cài đặt vào hệ thống của mình khi cần thiết. Cách thức đơn giản nhất để phân biệt là nhìn vào phía sau của ổ cứng, phần kết nối của nó.
Giao diện kết nối phía sau của ổ cứng IDE và SATA
Phân biệt 2 loại cáp truyền tải dữ liệu của SATA và EIDE (IDE)
Ổ cứng PATA (IDE) với 40-pin kết nối song song, phần thiết lập jumper (10-pin với thiết lập master/slave/cable select) và phần nối kết nguồn điện 4-pin, độ rộng là 3,5-inch. Có thể gắn 2 thiết bị IDE trên cùng 1 dây cáp, có nghĩa là 1 cáp IDE sẽ có 3 đầu kết nối, 1 sẽ gắn kết vào bo mạch chủ và 2 đầu còn lại sẽ vào 2 thiết bị IDE.
Ổ cứng SATA có cùng kiểu dáng và kích cỡ, về độ dày có thể sẽ mỏng hơn ổ cứng IDE do các hãng sản xuất ổ cứng ngày càng cải tiến về độ dày. Điểm khác biệt dễ phân biệt là kiểu kết nối điện mà chúng yêu cầu để giao tiếp với bo mạch chủ, đầu kết nối của ổ cứng SATA sẽ nhỏ hơn, nguồn đóng chốt, jumper 8-pin và không có phần thiết lập Master/Slave/Cable Select, kết nối Serial ATA riêng biệt. Cáp SATA chỉ có thể gắn kết 1 ổ cứng SATA.
Ngoài 2 chuẩn kết nối IDE (PATA) và SATA, các nhà sản xuất ổ cứng còn có 2 chuẩn kết nối cho ổ cứng gắn ngoài là USB, FireWire. Ưu điểm của 2 loại kết nối này so với IDE và SATA là chúng có thể cắm “nóng” rồi sử dụng ngay chứ không cần phải khởi động lại hệ thống.
Các loại kết nối của USB, FireWire 400, FireWire 800
USB (Universal Serial Bus)
USB 2.0 là chuẩn kết nối ngoại vi cho hầu hết các máy tính sử dụng hệ điều hành Windows. Loại kết nối này có tốc độ truyền tải dữ liệu tối đa lên đến 480 MB/giây. Tốc độ duy trì liên tục khoảng từ 10 - 30 MB/giây, tuỳ thuộc vào những nhân tố khác nhau bao gồm loại thiết bị, dữ liệu được truyền tải và tốc độ hệ thống máy tính. Nếu cổng USB của bạn thuộc phiên bản cũ hơn 1.0 hay 1.1 thì bạn vẫn có thể sử dụng ổ cứng USB 2.0 nhưng tốc độ truyền tải sẽ chậm hơn.
FireWire
FireWire còn được gọi là IEEE 1394, là chuẩn kết nối xử lý cao cấp cho người dùng máy tính cá nhân và thiết bị điện tử. Giao diện kết nối này sử dụng cấu trúc ngang hàng và có 2 cấu hình:
FireWire 400 (IEEE 1394a) truyền tải môt khối lượng dữ liệu lớn giữa các máy tính và những thiết bị ngoại vi với tốc độ 400 MB/giây. Thường dùng cho các loại ổ cứng gắn ngoài, máy quay phim, chụp ảnh kỹ thuật số…
FireWire 800 (IEEE 1394b) cung cấp kết nối tốc độ cao (800 MB/giây) và băng thông rộng cho việc truyền tải nhiều video số và không nén, các tập tin audio số chất lượng cao. Nó cung ứng khả năng linh hoạt trong việc kết nối khoảng cách xa và các tuỳ chọn cấu hình mà USB không đáp ứng được.
sưu tầm
chau2975
14-08-2007, 05:46 PM
CHỈ CÓ 2 CHUẨN THÔI À ÍT THẾ CÒN CHUẨN SCI DÂU SAO K NÓI LUÔN (CHẮC K BIẾT)
vanphuocmd
15-08-2007, 08:08 AM
tui chỉ nói 2 chuẩn thông dụng hiện nay thôi những chuẩn khác ít sài nên ko đề cập đến
VoLamTruyenNhan1
16-08-2007, 05:24 PM
anh oi anh cập nhật nhiều vào nhé
VoLamTruyenNhan1
16-08-2007, 05:43 PM
anh oi anh cập nhật nhiều vào nhé
VoLamTruyenNhan1
16-08-2007, 05:55 PM
anh oi anh cập nhật nhiều vào nhé
VoLamTruyenNhan1
16-08-2007, 06:05 PM
anh oi anh cập nhật nhiều vào nhé
conghieu8x
20-08-2007, 09:07 PM
Tường lửa là gì?
Một cách vắn tắt, tường lửa (firewall) là hệ thống ngăn chặn việc truy nhập trái phép từ bên ngoài vào mạng. Tường lửa thực hiện việc lọc bỏ những địa chỉ không hợp lệ dựa theo các quy tắc hay chỉ tiêu định trước.
Tường lửa có thể là hệ thống phần cứng, phần mềm hoặc kết hợp cả hai. Nếu là phần cứng, nó chỉ bao gồm duy nhất bộ định tuyến (router). Bộ định tuyến có các tính năng bảo mật cao cấp, trong đó có khả năng kiểm soát địa chỉ IP (IP Address ố là sơ đồ địa chỉ hoá để định nghĩa các trạm (host) trong liên mạng). Quy trình kiểm soát cho phép bạn định ra những địa chỉ IP có thể kết nối với mạng của bạn và ngược lại. Tính chất chung của các tường lửa là phân biệt địa chỉ IP hay từ chối việc truy nhập không hợp pháp căn cứ trên địa chỉ nguồn.
Các dạng tường lửa
Mỗi dạng tường lửa khác nhau có những thuận lợi và hạn chế riêng. Dạng phổ biến nhất là tường lửa mức mạng (Network-level firewall).
Loại tường lửa này thường dựa trên bộ định tuyến, vì vậy các quy tắc quy định tính hợp pháp cho việc truy nhập được thiết lập ngay trên bộ định tuyến. Mô hình tường lửa này sử dụng kỹ thuật lọc gói tin (packet-filtering technique) ố đó là tiến trình kiểm soát các gói tin qua bộ định tuyến.
Khi hoạt động, tường lửa sẽ dựa trên bộ định tuyến mà kiểm tra địa chỉ nguồn (source address) hay địa chỉ xuất phát của gói tin. Sau khi nhận diện xong, mỗi địa chỉ nguồn IP sẽ được kiểm tra theo các quy tắc do người quản trị mạng định trước.
Tường lửa dựa trên bộ định tuyến làm việc rất nhanh do nó chỉ kiểm tra lướt trên các địa chỉ nguồn mà không hề có yêu cầu thực sự nào đối với bộ định tuyến, không tốn thời gian xử lý những địa chỉ sai hay không hợp lệ. Tuy nhiên, bạn phải trả giá: ngoại trừ những điều khiển chống truy nhập, các gói tin mang địa chỉ giả mạo vẫn có thể thâm nhập ở một mức nào đó trên máy chủ của bạn.
Một số kỹ thuật lọc gói tin có thể được sử dụng kết hợp với tường lửa để khắc phục nhược điểm nói trên. Địa chỉ IP không phải là thành phần duy nhất của gói tin có thể "mắc bẫy" bộ định tuyến. Người quản trị nên áp dụng đồng thời các quy tắc, sử dụng thông tin định danh kèm theo gói tin như thời gian, giao thức, cổng... để tăng cường điều kiện lọc. Tuy nhiên, sự yếu kém trong kỹ thuật lọc gói tin của tường lửa dựa trên bộ định tuyến không chỉ có vậy.
Một số dịch vụ gọi thủ tục từ xa (Remote Procedure Call - RPC) rất khó lọc một cách hiệu quả do các server liên kết phụ thuộc vào các cổng được gán ngẫu nhiên khi khởi động hệ thống. Dịch vụ gọi là ánh xạ cổng (portmapper) sẽ ánh xạ các lời gọi tới dịch vụ RPC thành số dịch vụ gán sẵn, tuy nhiên, do không có sự tương ứng giữa số dịch vụ với bộ định tuyến lọc gói tin, nên bộ định tuyến không nhận biết được dịch vụ nào dùng cổng nào, vì thế nó không thể ngăn chặn hoàn toàn các dịch vụ này, trừ khi bộ định tuyến ngăn toàn bộ các gói tin UDP (các dịch vụ RPC chủ yếu sử dụng giao thức UDP ố User Datagram Protocol). Việc ngăn chặn tất cả các gói tin UDP cũng sẽ ngăn luôn cả các dịch vụ cần thiết, ví dụ như DNS (Domain Name Service ố dịch vụ đặt tên vùng). Vì thế, dẫn đến tình trạng "tiến thoái lưỡng nan".
Tường lửa dựa trên ứng dụng/cửa khẩu ứng dụng
Một dạng phổ biến khác là tường lửa dựa trên ứng dụng (application-proxy). Loại này hoạt động hơi khác với tường lửa dựa trên bộ định tuyến lọc gói tin. Cửa khẩu ứng dụng (application gateway) dựa trên cơ sở phần mềm. Khi một người dùng không xác định kết nối từ xa vào mạng chạy cửa khẩu ứng dụng, cửa khẩu sẽ ngăn chặn kết nối từ xa này. Thay vì nối thông, cửa khẩu sẽ kiểm tra các thành phần của kết nối theo những quy tắc định trước. Nếu thoả mãn các quy tắc, cửa khẩu sẽ tạo cầu nối (bridge) giữa trạm nguồn và trạm đích.
Cầu nối đóng vai trò trung gian giữa hai giao thức. Ví dụ, trong một mô hình cửa khẩu đặc trưng, gói tin theo giao thức IP không được chuyển tiếp tới mạng cục bộ, lúc đó sẽ hình thành quá trình dịch mà cửa khẩu đóng vai trò bộ phiên dịch.
Ưu điểm của tường lửa cửa khẩu ứng dụng là không phải chuyển tiếp IP. Quan trọng hơn, các điều khiển thực hiện ngay trên kết nối. Sau cùng, mỗi công cụ đều cung cấp những tính năng thuận tiện cho việc truy nhập mạng. Do sự lưu chuyển của các gói tin đều được chấp nhận, xem xét, dịch và chuyển lại nên tường lửa loại này bị hạn chế về tốc độ. Quá trình chuyển tiếp IP diễn ra khi một server nhận được tín hiệu từ bên ngoài yêu cầu chuyển tiếp thông tin theo định dạng IP vào mạng nội bộ. Việc cho phép chuyển tiếp IP là lỗi không tránh khỏi, khi đó, cracker (kẻ bẻ khoá) có thể thâm nhập vào trạm làm việc trên mạng của bạn.
Hạn chế khác của mô hình tường lửa này là mỗi ứng dụng bảo mật (proxy application) phải được tạo ra cho từng dịch vụ mạng. Như vậy một ứng dụng dùng cho Telnet, ứng dụng khác dùng cho HTTP, v.v..
Do không thông qua quá trình chuyển dịch IP nên gói tin IP từ địa chỉ không xác định sẽ không thể tới máy tính trong mạng của bạn, do đó hệ thống cửa khẩu ứng dụng có độ bảo mật cao hơn.
Các ý niệm chung về tường lửa
Một trong những ý tưởng chính của tường lửa là che chắn cho mạng của bạn khỏi "tầm nhìn" của những người dùng bên ngoài không được phép kết nối, hay chí ít cũng không cho phép họ "rớ" tới mạng. Quá trình này thực thi các chỉ tiêu lọc bỏ do người quản trị ấn định.
Trên lý thuyết, tường lửa là phương pháp bảo mật an toàn nhất khi mạng của bạn có kết nối Internet. Tuy nhiên, vẫn tồn tại các vấn đề xung quanh môi trường bảo mật này. Nếu tường lửa được cấu hình quá chặt chẽ, tiến trình làm việc của mạng sẽ bị ảnh hưởng, đặc biệt trong môi trường người dùng phụ thuộc hoàn toàn vào ứng dụng phân tán. Do tường lửa thực thi từng chính sách bảo mật chặt chẽ nên nó có thể bị sa lầy. Tóm lại, cơ chế bảo mật càng chặt chẽ bao nhiêu, thì tính năng càng bị hạn chế bấy nhiêu.
Một vấn đề khác của tường lửa tương tự như việc xếp trứng vào rổ. Do là rào chắn chống kết nối bất hợp pháp nên một khe hở cũng có thể dễ dàng phá huỷ mạng của bạn. Tường lửa duy trì môi trường bảo mật, trong đó nó đóng vai trò điều khiển truy nhập và thực thi sơ đồ bảo mật. Tường lửa thường được mô tả như cửa ngõ của mạng, nơi xác nhận quyền truy nhập. Tuy nhiên điều gì sẽ xảy ra khi nó bị vô hiệu hoá? Nếu một kỹ thuật phá tường lửa được phát hiện, cũng có nghĩa "người vệ sĩ" bị tiêu diệt và cơ hội sống sót của mạng là rất mỏng manh.
Vì vậy trước khi xây dựng tường lửa, bạn nên xem xét kỹ và tất nhiên phải hiểu tường tận về mạng của mình.
Phải chăng tường lửa rất dễ bị phá?
Câu trả lời là không. Lý thuyết không chứng minh được có khe hở trên tường lửa, tuy nhiên thực tiễn thì lại có. Các cracker đã nghiên cứu nhiều cách phá tường lửa. Quá trình phá tường lửa gồm hai giai đoạn: đầu tiên phải tìm ra dạng tường lửa mà mạng sử dụng cùng các loại dịch vụ hoạt động phía sau nó; tiếp theo là phát hiện khe hở trên tường lửa ố giai đoạn này thường khó khăn hơn. Theo nghiên cứu của các cracker, khe hở trên tường lửa tồn tại là do lỗi định cấu hình của người quản trị hệ thống, sai sót này cũng không hiếm khi xảy ra. Người quản trị phải chắc chắn sẽ không có bất trắc cho dù sử dụng hệ điều hành (HĐH) mạng nào, đây là cả một vấn đề nan giải. Trong các mạng UNIX, điều này một phần là do HĐH UNIX quá phức tạp, có tới hàng trăm ứng dụng, giao thức và lệnh riêng. Sai sót trong xây dựng tường lửa có thể do người quản trị mạng không nắm vững về TCP/IP (Transmission Control Protocol/ Internet Protocol).
Một trong những việc phải làm của các cracker là tách các thành phần thực ra khỏi các thành phần giả mạo. Nhiều tường lửa sử dụng "trạm hy sinh" (sacrificial hosts) - là hệ thống được thiết kế như các server Web (có thể sẵn sàng bỏ đi) hay bẫy (decoys), dùng để bắt các hành vi thâm nhập của cracker. Bẫy có thể cần dùng tới những thiết bị ngụy trang phức tạp nhằm che dấu tính chất thật của nó, ví dụ: đưa ra câu trả lời tương tự hệ thống tập tin hay các ứng dụng thực. Vì vậy, công việc đầu tiên của cracker là phải xác định đây là các đối tượng tồn tại thật.
Để có được thông tin về hệ thống, cracker cần dùng tới thiết bị có khả năng phục vụ mail và các dịch vụ khác. Cracker sẽ tìm cách để nhận được một thông điệp đến từ bên trong hệ thống, khi đó, đường đi được kiểm tra và có thể tìm ra những manh mối về cấu trúc hệ thống.
Ngoài ra, không tường lửa nào có thể ngăn cản việc phá hoại từ bên trong. Nếu cracker tồn tại ngay trong nội bộ tổ chức, chẳng bao lâu mạng của bạn sẽ bị bẻ khoá. Thực tế đã xảy ra với một công ty dầu lửa lớn: một tay bẻ khoá "trà trộn" vào đội ngũ nhân viên và thu thập những thông tin quan trọng không chỉ về mạng mà còn về các trạm tường lửa.
Lời kết
Hiện tại, tường lửa là phương pháp bảo vệ mạng phổ biến nhất, 95% "cộng đồng phá khoá" phải thừa nhận là dường như không thể vượt qua tường lửa. Song trên thực tế, tường lửa đã từng bị phá. Nếu mạng của bạn có kết nối Internet và chứa dữ liệu quan trọng cần được bảo vệ, bên cạnh tường lửa, bạn nên tăng cường các biện pháp bảo vệ khác.
conghieu8x
20-08-2007, 09:12 PM
Còn chuẩn nào nữa đề cập luôn đi Phước
conghieu8x
20-08-2007, 09:16 PM
:byebye:BỘ TĂNG TỐC ĐỒ HỌA
Những trò chơi hàng đầu như Tomb Raider III có thể vắt kiệt máy tính của bạn nếu nó không được trang bị một card màn hình tăng tốc đồ họa 3D thật sự. Hãy cùng xem xét và đánh giá 15 loại card mới và mạnh nhất đang có trên thị trường.
Với sự gia tăng của nhu cầu chơi game và các ứng dụng truyền thông đa phương tiện, các loại card đồ họa cao cấp hiện đang được chờ đợi hơn bao giờ hết. Những loại card 2D tẻ nhạt chỉ hỗ trợ hình ảnh 2 chiều đang bắt đầu lùi vào quá khứ, nhường chỗ cho các loại card 3D hùng mạnh hỗ trợ tăng tốc đồ họa 3 chiều có hầu hết trong những ứng dụng mới nhất mà một bộ vi xử lý dù nhanh và mạnh vẫn không đáp ứng nổi. Không những thế, trong khi có thể mua một bộ tăng tốc đồ họa 3D hiện khá dễ dàng, việc có một quyết định khôn ngoan và đúng đắn lại khá khó khăn khi phải chọn lựa giữa quá nhiều chủng loại của các nhà sản xuất khác nhau. Và, tất nhiên khi mọi công ty đều cho rằng phần cứng của mình là tốt nhất với cách chọn tên đầy khoa trương cho các chipset cũng như cách đánh giá tốc độ bằng các biệt ngữ khó hiểu để bán hàng, hy vọng những phân tích sau đây có thể giúp các bạn đỡ bối rối hơn trong "khu rừng đồ họa" khó hiểu này, trả lời các thắc mắc của bạn và chỉ ra các sản phẩm "Best Buys"
Đồ hoạ 2D/3D hay chỉ 3D
Điều đầu tiên cần làm khi nâng cấp phần cứng đồ họa là làm sao xác định chính xác loại card nào bạn thực sự cần. Nếu nói chung bạn không thật hài lòng với chất lượng đồ họa mà bạn đang có, vậy bạn có thể chỉ muốn tìm kiếm một card mới với các tính năng tăng tốc đồ họa cả 2 chiều và 3 chiều cùng một lúc. Mặt khác, nếu bạn chỉ muốn tăng cường thêm một chiều cho chiếc card sẵn có như để chơi game chẳng hạn, lúc đó bạn chỉ cần cân nhắc mua bộ tăng tốc đồ họa 3D để phối hợp thôi.
Giải pháp 2D/3D phối hợp là chọn lựa phổ biến nhất, với 13 trên 15 card thử nghiệm. Điều thuận lợi là do bạn chỉ dùng một khe cắm mở rộng duy nhất cho giải pháp đồ họa này và bạn sẽ có cả hiển thị 3D trong cửa số Windows và toàn màn hình. Các loại card 3D thuần túy, trên nền tảng chip 3Dfx Voodoo II, thì không hỗ trợ tăng tốc trên cửa sổ desktop và phải chiếm trọn màn hình hiển thị để làm việc.
Phần mềm hỗ trợ
Khi thử nghiệm, ngoài việc đánh giá dựa trên các tính năng hiển thị mà các nhà sản xuất công bố cho loại card của mình, điều quan trọng ở đây là còn phải xem xét các card này có thật sự tương thích với các phần mềm ứng dụng mà bạn cần tăng tốc không? Thật vô nghĩa nếu chọn mua loại card nhanh và mạnh nhất nhưng lại không hỗ trợ cho những phần mềm yêu thích của bạn.
Đa số các ứng dụng 3D trên Windows và các trò chơi được viết theo hệ thống Direct 3D của Microsoft, một phần của phần mềm multimedia DirectX của Windows và hầu hết các card tăng tốc đồ họa tốt đều hỗ trợ chuẩn này. Do đó, các bạn không nên mua các bộ tăng tốc không hoàn toàn tương thích với DirectX và nên chỉ lựa chọn card nào có trình driver làm việc với phiên bản mới nhất của DirectX là 6.1.
Có một hệ thống chuẩn 3D hay còn gọi là API (Application Program Interface) phổ biến khác là OpenGL (Open Graphics Language) đang được phát triển bởi các chuyên gia của Silicon Graphics. Có một số trò chơi cung cấp cho các bạn lựa chọn để chuyển sang hệ thống đồ họa này như Quake & Quake 2, Hexen 2, Heretic 2 và game mới nhất Half Life của Sierra. Trong hầu hết các trường hợp, chơi game trong môi trường OpenGL sẽ có hiệu ứng đồ họa đẹp hơn rất nhiều so với chuẩn Direct3D. Bộ tăng tốc đồ họa Millenium G200 của Matrox là card duy nhất không hỗ trợ toàn diện cho OpenGL.
Bên cạnh hai API chính này, 3Dfx còn phát triển một chọn lựa khác là Glide cho các loại card của họ trên nền chip Voodoo và các game tương thích như Turok, Shadows of Empire và Unreal nhưng hiện chuẩn này có xu hướng thu hẹp bởi vì ngày càng có nhiều nhà phát triển phần mềm hỗ trợ OpenGL.
Chip đồ họa
Trái tim của tất cả các card chính là chipset, điều quyết định phạm vi phân giải màn hình, các tính năng 3D và các hiệu ứng đặc biệt khác. Ngày nay, hầu hết các card được thiết kế quanh một trong 4 chipset phổ biến nhất: Voodoo Banshee và Voodoo 2 của 3Dfx, Riva TNT của NVIDIA và Savage của S3. Tuy nhiên, có một vài công ty như Matrox và ATI vẫn phát triển các card với chipset riêng của mình.
Loạt chip Voodoo cho đến giờ đang là phổ biến nhất và bộ xử lý đồ họa Voodoo nguyên gốc chính là tiêu chuẩn mà dựa trên đó chúng ta đánh giá các loại card khác. Loạt chip này sau đó lại được thay thế bởi dòng Voodoo 2 hùng mạnh hơn, thậm chí có cả tính năng xử lý đồ họa song song - 2 card Voodoo 2 của cùng một nhà sản xuất có thể được sử dụng cùng lúc để có hiệu suất cao hơn.
Voodoo 2 là bộ tăng tốc 3D thuần túy và các loại card sử dụng chip này phải làm việc phối hợp với card đồ họa có sẵn của bạn. 3Dfx cũng đã tung ra chip 2D/3D phối hợp có tên là Voodoo Rush chỉ một thời gian ngắn sau khi tung ra Voodoo 2 nhưng bị thất bại do thua sút về tính năng và tốc độ so với các loại card của các nhà sản xuất khác. Do đó, dòng 2D/3D hiện nay của họ được thay thế bởi dòng chip Voodoo Banshee có trong các card Diamond Monster Fusion, Pace 3D Edge, STB Lightspeed và Maxi Gamer Phoenix.
Dòng chip Banshee này tương thích hoàn toàn với Voodoo 2 nhưng cung cấp hiệu quả 3D tổng quát kém hơn chút ít do Voodoo 2 có đến 2 đơn vị bộ nhớ TMU (Texture Memory Unit) giúp mô phỏng các cảnh 3 chiều phức tạp một cách nhanh hơn trong khi dòng Banshee chỉ có một. Tuy nhiên, chip Banshee lại có khả năng lấp đầy màn hình với các pixel nhanh hơn "ông anh" của nó và còn cung cấp khả năng tăng tốc 3D lên tới độ phân giải 1600 x 1200 và 2D là 1920 x 1440 pixels.
Thử nghiệm về các card đồ họa này cũng dành cho loại chip thế hệ mới nhất của 3Dfx là Voodoo 3 dù nó chỉ đang ở giai đoạn thử nghiệm beta và chắc là hiện nay vào thời điểm bài viết được in, đã có mặt trên thị trường. Kết quả thử nghiệm của Voodoo 3 cực kỳ ấn tượng do cấu trúc chủ yếu của nó là nền tảng của Banshee với 2 đơn vị bộ nhớ TMU, cho ra một hiệu suất 2D/3D nhanh và đẹp hơn nhiều so với Voodoo 2.
TNT
Các card Creative Graphics Blaster, Diamond Viper V550, Hercules Dynamite và STB Velocity 4400 đều được thiết kế trên nền tảng chip Riva TNT của NVIDIA. Về lý thuyết, họ TNT không hề thua kém đối thủ Voodoo nếu không muốn nói là vượt trội khi hỗ trợ độ phân giải lên đến 1920 x 1200 (dù 1024 x 768 là quá đủ cho chơi game) và trên thực tế cung cấp hình ảnh chi tiết hơn nhiều so với các bo mạch Voodoo 2. Điều này là do chip Riva TNT hỗ trợ giả lập đồ họa 32-bit màu trong khi tất cả các chip 3Dfx chỉ làm việc ở 16-bit màu. Ngoài ra, cấu trúc TNT còn có thể cho tỷ suất lấp đầy màn hình nhanh hơn dòng Banshee nhưng các nhà lập trình cần phải tối ưu hóa phần mềm của họ để có thể lợi dụng tối đa hiệu quả chip này.
Card Hercules Terminator Beast là card duy nhất được thiết kế trên nền tảng chip Savage 3D của S3. Lại một lần nữa, S3 chứng tỏ mình có một sản phẩm khá tốt và đây là chip đầu tiên của S3 giới thiệu hệ thống nén hình ảnh TC (texture compression) đầy uy lực khiến cho các nhà phát triển phần mềm có được khả năng lưu trữ hình ảnh có độ phân giải cao hơn bình thường trong bộ nhớ bằng cách nén dự liệu hình ảnh xuống chỉ còn 1/4 đến 1/6 kích thước nguyên gốc. Do đó khi xả nén, chúng ta sẽ có được những hình ảnh đẹp hơn nhiều trên màn hình. Ví dụ khi chơi Quake hay Unreal, chúng ta thường thấy hình ảnh các bức tường hay vật thể khác hơi nhòa do hình ảnh đồ họa được lọc để tránh cho ta thấy các gờ hay mép lởm chởm, gồ ghề nhưng nếu các nhà viết phần mềm sử dụng kỹ thuật nén hình thì hình ảnh có được sẽ sắc nét hơn nhiều và có chất lượng tương đương ảnh chụp. Do đó, S3TC đã được Microsoft cấp phép như là một phần của DirectX.
Các nhà sản xuất như Matrox và ATI cũng phát triển công nghệ 3D của riêng họ. Card Millennium G200 của Matrox có độ phân giải 2D lên tới 1920 x 1200 ở 16-bit màu và x 864 khi giả lập 3D ở 32-bit màu. Ngoài ra, công ty cũng thêm vào các chức năng 3D tiêu chuẩn công nghệ mới VCQ (Vibrant Colour Quality) làm cho các hiển thị ở 16-bit màu tươi sáng và rực rỡ hơn ở các sản phẩm khác.
Cuối cùng, card ATI Rage Fury được xây dựng trên nền bộ xử lý mới nhất Rage 128 với các tính năng giả lập 3D 32-bit màu, tăng tốc và giải mã phần cứng DVD và single-pass multi-texturing.
Bộ nhớ
Số lượng và kiểu bộ nhớ dùng trong card đồ họa có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của chúng. ở mức độ căn bản, lượng bộ nhớ sẽ quyết định độ phân giải và độ sâu của màu sắc, càng nhiều bộ nhớ, các bạn sẽ vươn tới được những giới hạn cao nhất và sâu nhất tích hợp trong bộ xử lý đồ họa. Nói chung, hầu hết người dùng không cần hơn 4Mb bộ nhớ card màn hình để có được những hiển thị thông thường vì thế là đủ cho việc xử lý độ phân giải 1024 x 768 ở 32-bit màu hay 1600 x 1200 pixel cho hiển thị16-bit.
Nếu 4Mb là đủ cho hầu hết các hiển thị thì tại sao các card hiện nay có từ 8 đến 32 Mb bộ nhớ? Câu trả lời là đơn giản lượng bộ nhớ thêm ra này được dùng để tăng tốc độ xử lý đồ họa bằng nhiều cách khác nhau. Ví dụ, chúng có thể được dùng như bộ đệm cho việc vẽ các khung hình trong bộ nhớ phải hiển thị mà sau đó được chuyển đổi lên màn hình toàn phần cho ra các hình ảnh nhuyễn hơn (việc xử lý hình ảnh kiểu này được gọi là bộ đệm kép). Lượng bộ nhớ phụ này cũng còn được dùng để tăng tốc các hình ảnh 2D dạng bitmap như là các icon, nút, thanh cuộn, hộp đối thoại khiến chúng có thể xuất hiện nhanh hơn.
Việc chạy các tập tin AVI hay MPEG cũng đòi hỏi nhiều bộ nhớ hơn lượng bộ nhớ thực tế để hiển thị hình ảnh lên màn hình. Hình ảnh video được ghi lại dưới dạng YUV nhưng hiển thị trên máy tính lại làm việc dưới dạng RGB. Card đồ họa nạp các dữ liệu nguyên gốc vào một vùng bộ nhớ lưu trữ đồ họa. Sau đó chuyển đổi và sao chép các thông tin lên màn hình.
ở đồ họa 3 chiều, lượng bộ nhớ dư ra sẽ được dùng để lưu trữ hình ảnh cho việc xử lý nhanh hơn và bộ đệm Z sẽ khiến cho các vật thể đồ họa 3 chiều xuất hiện như thật. Kiểu bộ nhớ cũng
ảnh hưởng đến tốc độ xử lý hình ảnh, một vài loại card trang bị bộ nhớ SDRAM, SGRAM hay VRAM có tốc độ xử lý nhanh hơn bộ nhớ DRAM truyền thống.
PCI Hay AGP?
Nếu bạn có một máy tính đời mới với khe cắm tăng tốc đồ họa AGP thì nhất thiết bạn phải chọn mua loại card đồ họa sử dụng cổng AGP này hơn là một card PCI tiêu chuẩn. Được thiết kế đặc biệt cho nhu cầu đồ họa, khe cắm AGP chạy ở chế độ 64-bit ở tốc độ 66 MHz (so với 32-bit và 33 MHz ở PCI) cho phép truyền dữ liệu nhanh hơn nhiều. Các lọai bo mạch máy tính đời mới còn hỗ trợ cho cổng AGP tốc độ 2 và phiên bản tốc độ 4 cũng sắp được tung ra thị trường. Một vài loại card được thử nghiệm tại đây thậm chí đã được tối ưu hóa sẵn cho việc tương thích với các cổng AGP tốc độ 4.
Trình điều khiển
Trong khi nhiều nhà sản xuất tập trung vào việc nâng cấp phần cứng, phần mềm điều khiển card đồ họa cũng không kém quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả làm việc của chúng. Hầu hết các trình điều khiển đều được nâng cấp khoảng 2 hay 3 lần một năm để đảm bảo hiệu quả đồ họa tốt nhất và giải quyết các vấn đề không tương thích. Hãng Diamond nâng cấp trình driver điều khiển ngay trong quá trình thử nghiệm và sự khác nhau giữa chất lượng đồ họa của phiên bản cũ và mới được cải thiện rất đáng kể.
Tất cả các card thử nghiệm đều được chạy với phiên bản mới nhất của trình điều khiển và bạn đừng bỏ lỡ cơ hội kiểm tra trên các trang web của nhà sản xuất card đồ họa của bạn bất cứ lúc nào để có được các phiên bản mới nhất trên.
Đánh giá chung về hiệu quả
Tất cả card đồ họa đều được thử nghiệm ở phòng thí nghiệm VNU Labs, sử dụng phần mềm benchmark mới nhất 3D Mark. Cũng giống như chương trình thử nghiệm phổ biến truớc đó là Final Reality, 3D Mark giả lập những yêu cầu của các game Direct 3D để chỉ ra hiệu quả làm việc của các card đồ họa trong thực tế. Tất cả card đều được thử nghiệm ở độ phân giải 1024 x 768 ở 16-bit màu.
Dẫn đầu tuyệt đối trong các thử nghiệm sơ khởi với tổng điểm đánh giá 2842 là card Voodoo 3 của 3Dfx phiên bản beta, đạt đến 43.7 fps (frame per second - khung hình trong 1 giây) trong các game đua xe và 51.3 fps trong các game hành động. Tất cả card cũng đều được thử nghiệm khả năng Open GL trong trò chơi Half Life của Sierra và một lần nữa Voodoo 3 lại dẫn đầu với tốc độ 72 fps đầy ấn tượng.
Tốc độ không phải là khía cạnh duy nhất khi tìm mua một card đồ họa 3D. Chất lượng hình ảnh cũng quan trọng không kém và ở đây chip Voodoo 3 không còn gây ấn tượng vượt trội nữa với chất lượng hình ảnh trong thử nghiệm không hơn gì chip Voodoo 2. Điều này có thể là do 3Dfx chỉ chú trọng gia tăng tốc độ hơn là chất lượng hình ảnh. Trong khi đó, dù hiệu quả chung của chip Voodoo 2 khá tốt, đây vẫn không phải hoàn toàn là cái mà chúng ta chờ đợi ở con chip thế hệ mới này so với các dòng Voodoo trước. Kế tiếp theo Voodoo 3 là hệ thống 2 chip Voodoo 2 với 2151 điểm, sau đó là card 3D thuần túy Maxi Gamer với chip Voodoo 2 có điểm 2023.
Card tăng tốc đồ họa 2D/3D tốt nhất là Viper V550 của Diamond với chất lượng hình ảnh rõ nét hơn bất cứ hệ thống Voodoo nào, nó đổ bóng nhuyễn hơn và chi tiết sắc xảo hơn. Khá thú vị là một card khác của Diamond là Monster Fusion cho tốc độ cao nhất so với các card khác xây dựng trên cùng nền tảng chip Voodoo Banshee, chất lượng hình ảnh xuất ra của nó lại là kém nhất. Nguyên nhân có thể là do trình driver điều khiển chưa được tối ưu hóa và cần phải xem xét lại.
Sự tuyên dương cũng đến với card ATI Rage Fury, Pace 3D Edge và Hercules Terminator Beast với đánh giá chung thuộc vào loại tốt nhất. Card đạt điểm thấp nhất là Matrox Millennium G200 với tốc độ thử nghiệm trong Half Life thấp nhất là 22 fps. Tuy nhiên chất lượng hình ảnh của G200 lại khá tốt, nếu không muốn nói rằng còn tốt hơn là các card 3D thuần túy sử dụng chip Voodoo 2.
Chú ý: trong cuộc bình chọn sản phẩm tiêu biểu cho năm 99, tạp chí PC World (USA) đã đánh giá Matrox Millennium G200 là card đồ họa tốt nhất với giá 129 USD (theo Tin học và Đời sống số 6/99). Ngoài ra, hiện ở Việt Nam, các loại card tăng tốc đồ họa cao cấp này đã bắt đầu phổ biến trong giới chơi game và ứng dụng đồ họa cao cấp, phổ biến nhất là card GA 630 của Gygabyte (Đài Loan) sử dụng chip Voodoo Banshee 16 Mb, card Creative Labs Graphics Blaster TNT 16 Mb và card Creative 3D Blaster Savage 4 có 32 Mb có giá từ khoảng 100 đến 170 USD tùy loại.
Cuối cùng, dù chưa chính thức xuất hiện
:beat_brick:
conghieu8x
20-08-2007, 09:20 PM
hơi bị dầi dòng các Pác thông cảm nhé!!!!!!!!!!
conghieu8x
20-08-2007, 09:25 PM
BÍ MẬT VỀ TỐC ĐỘ CỦA PC :khi10:
Khi bạn tìm mua một PC mới, việc quyết định chọn chip giữa Intel và AMD chỉ là màn khởi đầu. Dưới đây, chúng tôi sẽ hướng dẫn bạn cách làm chủ các tính năng và lựa chọn được máy có tốc độ nhanh thật sự.
Cạnh tranh quả thật là một điều hay ho, nhất là khi bạn tìm kiếm PC mới có tốc độ cao. Gần như mạnh hơn cuộc chiến giành ưu thế về CPU. Các công ty mới trong lĩnh vực sản xuất chip cũng nhảy vào cuộc. Tốc độ của bộ xử lý cứ tăng lên mãi, giá lại giảm. Người mua có được máy tính mạnh hơn với giá thấp hơn.
Tuy nhiên cạnh tranh cũng có thể gây nên tình trạng lẫn lộn. CPU nào phù hợp nhất với những nhu cầu riêng của bạn - Athlon? Celeron? Duron? Pentium III? Hay bạn nên bỏ thêm ít tiền để mua một trong những hệ thống Pentium 4 đầu tiên? Hơn nữa, cuộc chiến CPU mới chỉ bắt đầu. Liệu PC mới của bạn có tăng thêm tốc độ nhờ RDRAM hay SDRAM? Còn DDR SDRAM thì sao? Megahertz hay Gigahertz? Có quá nhiều vấn đề phải giải quyết.
Chỉ mới 4 năm trước, cache đầu tiên của Intel Pentium được gắn sẵn trên bộ xử lý, còn cache Level 2 chậm hơn thì kết nối với chip bằng bus dữ liệu. Thiết kế CPU này nay tích hợp cả 2 loại cache trên bộ xử lý, nhờ vậy tốc độ nhanh hơn.
Bộ nhớ cache Level 2 - nguyên nhân kìm hã m tốc độ của Athlon thế hệ đầu tiên - không còn là vấn đề nan giải nữa nhờ cache tích hợp L2 256KB vừa được giới thiệu mùa hè qua. Athlon ban đầu có cache L2 512KB tốc độ chậm nằm ngoài chip, nhưng giờ đây CPU loại đó đã trở thành lạc hậu. Ðể đảm bảo mua đúng PC Athlon mới, hãy kiểm tra đặc tính: Máy phải có tổng cộng 384KB cache bộ xử lý (L1+L2). Nếu đặc tính ghi cache L2 256 cũng được. Cache tổng cộng của Athlon lớn hơn 288 KB cache tổng cộng của PIII (32KB L1 và 256 KB L2). Nói chung, cache gắn trên chip càng lớn thì tốc độ càng cao.
Riêng Pentium III, mặc dù kích thước cache nhỏ hơn và ít CPU hơn so với Athlon, nhưng tốc độ vẫn khả dĩ. Nó là CPU cỡ trung của Intel, với tốc độ từ 733 MHz đến 1 GHz. "Nếu bạn chỉ viết thư cho mẹ, Pentium III là đủ tốt; nhưng nếu bạn soạn thảo video, nhận dạng tiếng nói, hay sử dụng như trạm làm việc mức thấp thì P4 thích hợp hơn", theo lời nói của một viên chức Inel.
Thực ra P3 có rất nhiều khả năng. Nó đủ mạnh để chạy các ứng dụng nặng về đồ hoạ như CAD hay soạn thảo video. Nếu bạn chỉ cần soạn thảo văn bản, tốt hơn hết là tiết kiệm vài trăm USD với chip Celeron 566 MHz rẻ tiền. Một nhà phân tích cho rằng: "Kế hoạch của Intel là tung ra P4 ở mức cao cấp, rồi nhanh ***ng chuyển nó xuống thị trường PC bậc trung để cạnh tranh với Athlon".
Theo đại diện của Giga Information Group, Athlon vừa được đưa ra năm ngoái có kiến trúc mới hơn và khả năng tăng tốc độ xung nhịp cao hơn trong tương lai, trong khi PIII dường như đã đạt đến đỉnh điểm là 1GHz.
Cũng chưa hẳn như vậy, Intel đang phát triển PIII thành Tualatin, dự kiến phát hành vào giữa năm sau, sẽ cạnh tranh với Athlon ở thị trường 1000-1500 USD, theo lời một phân tích viên của InQuest Research. Tualatin sẽ có cache L2 512KB và hỗ trợ bus hệ thống 133 MHz hoặc 200 MHz. Nó còn cho phép sử dụng DDR SDRAM, song cũng có thể Intel dành lại DDR cho các hệ thống P4. Như vậy PIII tiếp tục sống.
Chọn chip rẻ tiền
Ðối với người dùng PC có nhu cầu đơn giản như duyệt Web, trao đổi e-mail thì cũng chẳng cần phải mua PIII hay Athlon. Ðược sử dụng trong các PC giá dưới 1000USD, những chip như AMD Duron, Intel Celeron và Via Cyrix II với tốc độ khởi đầu 500MHz là đủ dùng. Cuối năm nay, Celeron và Duron sẽ đạt tới 800MHz, còn Cyrix III sẽ đạt 700 MHz.
Kết hợp với tốc độ với giá cả phải chăng thì Duron là thích hợp hơn cả. Thử nghiệm PC WorldBench 2000 cho thấy PC Duron chạy nhanh ngang ngửa với PIII. Chẳng hạn PC Duron 600MHz không những vượt PIII 600MHz 13 điểm, mà còn thu PIII 733 MHz chỉ có 5 điểm.
Duron còn sáng ***i hơn nữa nếu so sánh với Intel Celeron hay Via Cyrix III. Bus front-side 200MHz của nó nhanh gấp 3 lần bus 66MHz của Celeron, và nó có cache tích hợp 192KB (128KB L1 và 64KB L1 và 128KB L2).
Cache càng lớn thì CPU càng ít phải dùng đến bộ nhớ chính để lưu thông tin và lệnh, nhờ vậy tốc độ hệ thống nhanh hơn.
Tuy nhiên nên nhớ rằng tốc độ hệ thống không chỉ phụ thuộc vào CPU. Chẳng hạn PC Celeron thường có kèm theo bộ điều khiển đồ hoạ tích hợp trên chip chứ không phải trên card tăng tốc đồ hoạ riêng giống như trong phần lớn các hệ thống PIII. Bộ điều khiển đồ hoạ tích hợp này lại thường chia sẻ bộ nhớ hệ thống chính của PC. Hệ thống bị thúc ép, tốc độ đồ hoạ bị chậm lại, kết quả là hình ảnh trong các trò chơi 3D hay bị giật. Nếu bạn là tay chơi game, tốt hơn hết nên đầu tư vào PC PIII hay Athlon.
Via Cyrix III có 128KB cache L1 nhưng không có cache L2, vì vậy nó chạy chậm nhất trong 3 loại chip giá rẻ nói trên. Via Technology dự đình đầu năm tới sẽ giới thiệu chip Cyrix III nâng cấp, mã hiệu là Samue II, có 64 KB cache L2 nâng cao tốc độ. Cyrix III hỗ trợ tốc độ bus front-side là 66, 100, hay 133MHz. Hiện nay chưa có nhà sản xuất PC lớn nào tại Mỹ công bố sẽ dùng chip Cyrix III, do đó nó chưa được phổ biến rộng rãi trong giới sản xuất máy tính.
Giám đốc tiếp thị của Via Technology cho biết cuối năm nay Cyrix III sẽ xuất hiện trong các hệ thống từ 500 đến 600USD. Tốc độ xung nhịp trong khoảng 500-700 MHz, nhưng Via cũng công nhận là thiết kế của chip này không cho phép tốc độ cao hơn, nhất là đối với các ứng dụng đồ hoạ. Tuy nhiên, khi chạy những chương trình thông thư ờng như xử lý văn bản và duyệt Web, tốc độ của Celeron và Cyrix II là quá đủ.
Intel đang phát triển một sản phẩm cạnh tranh với Cyrix III mang mã hiệu Timna, sẽ ra mắt khoảng đầu năm tới tỏng các máy tính giá dưới 700USD. Timna làm giảm chi phí hệ thống nhớ tích hợp các bộ điều khiển đồ hoạ và bộ nhớ với bộ vi xử lý ngay trên chip. Một nhà phân tích tin rằng thiết kế tích hợp cao của Timna không ảnh hưởng tới tốc độ hệ thống, thực tế nó còn hỗ trợ thêm cho một số ứng dụng. Ông nói: "Khi tích hợp hệ thống bộ nhớ lên một chip, bạn thực sự có lợi về tốc độ do CPU không phải viện đến chip để trao đổi với bộ nhớ".
Liệu Timna có phải là một dòng sản phẩm mới để người dùng cân nhắc khi mua máy tính? Có lẽ là không. Vẫn theo nhà phân tích trên, có thể Intel sẽ giới thiệu Timna dưới nhã n hiệu Celeron; người dùng cuối sẽ không quan tâm PC Celeron 600MHz có chip Timna hay chip Celeron bên trong.
Tốc độ xung nhịp cao hơn là xu hướng rõ rệt. Nhưng PC còn cần cả bo mạch chủ và thiết bị ngaọi vi tốc độ nhanh hơn mới thực sự tăng được tốc độ tổng thể. Chẳng hạn chip Celeron thế hệ kế tiếp của Intel sẽ nâng cấp bus 66MHz của phiên bản hiện thời lên 100MHz hoặc hơn-không phải vì người dùng đòi hỏi mà vì bus 200MHz của Duron đã nâng mức tốc độ của máy tính cấp thấp lên. Các nhà phân tích cho rằng người dùng Celeron sẽ không nhận thấy sự khác biệt này khi chạy các ứng dụng hàng ngày; bus hệ thống không gây cản trở đối với các ứng dụng thông thường. Ðại diện của Intel cũng đồng quan điểm: "Tốc độ bus đối với Celeron ít quan trọng. Khách hàng thường chú ý đến megahertz". Nói các khác, khi so sánh để quyết định mua máy, phần lớn người mua quan tâm nhiều đến loại CPU và tốc độ (Celeron-660, Duron-600, v.v...) hơn là những gì cụ thể làm cho PC chạy nhanh.
Tuy nhiên hàng loạt nguyên nhân gây trì trệ cho hệ thống có ảnh hưởng rõ rệt đến người dùng, kể cả những người dùng xử lý văn bản hàng ngày, và đặc biệt là những ai làm việc củ yếu với những phần mềm đồ hoạ và hình ảnh độ phân giải cao. Có một giải pháp là tăng thêm bộ nhớ. Nếu đĩa cứng của bạn bị chậm chễ mỗi khi chuyển từ ứng dụng này sang ứng dụng khác, bổ sung RAM có thể cải thiện tình hình. Ví dụ PC Pentium III- 500 có 128MB RAM chạy nhanh hơn 13% so với PIII-500 chỉ có 64MB bộ nhớ.
CPU di động, tiết kiệm năng lượng
Mặt trận tính toán di động cũng đang thay đổi rất nhanh ***ng. Người dùng laptop mong muốn có khả năng sử dụng máy cả ngày mà không cần cắm điện. Ðáp án kh ông phải từ các đại gia chip Intel hay AMD: Crusoe của Transmeta là bộ xử lý cho máy di động duy nhất được thiết kế để tăng thời gian sống của pin, dự kiến được tung ra cuối năm nay trong các máy xách tay nặng khoảng 1,35-1,8KG bởi các nhà sản xuất PC lớn như Fujitsu, HItachi, IBM và Sony.
Thay vì tạo bộ xử lý tương thích Intel (x86) trong phần cứng, Transmeta đã tạo phần mềm "code-morphing" biên dịch các lệnh x86 thành lệnh mà cơ cấu phần cứng Very Long Instruction Word của Crusoe có thể hiểu được. Các hệ điều hành và ứng dụng hoạt động như thể chúng đang chạy trên chip x86, mặc dù không phải vậy
Chip Crusoe hứa hẹn tiết kiệm năng lượng một cách đáng kể - IMB dự đoán 7 đến 8 giờ làm việc trên ThinkPad 240X. Một ThinkPad tương tự với chip Pentium III 500 MHz chạy được khoảng 4-5 giờ. Vì thành phần phần cứng của Crusoe nhỏ hơn và có ít transistor hơn các CPU di động truyền thống, nó tạo ít nhiệt hơn và dùng ít năng lư ợng hơn, rất lý tưởng cho các notebook nhẹ, không có quạt và các thiết bị Web. Chip Crusoe dùng 500mw đến 1,5w nưang lượng - rất nhỏ so với 6 đến 16w tiêu thụ bởi các CPU di động khác.
Tuy nhiên, IBM dự đoán rằng thế hệ Crusoe đầu tiên sẽ có tốc độ chậm so với các CPU di động tương đương của AMD và Intel; "loạt chip này sẽ có giới hạn 300-600 MHz, nhưng tốc độ cao nhất tương tự như PIII 500MHz". Yếu điểm về tốc độ này có thể giảm khi các phiên bản tiếp theo của bộ xử lý ra đời. Trong khi đó, các CPU di động cạnh tranh của AMD và Intel lại được cải tiến với những công nghệ tiết kiệm năng lượng mà các nhà sản xuất cho rằng làm giảm năng lượng tiêu thụ trung bình xuống mức đáng kể. Chẳng hạn công nghệ SpeedStep của Intel tự động giảm điện năng và tốc độ xử lý Pentium III xuống khi hoạt động bằng năng lượng pin. Cụ thể bộ xử lý Pentium III di động khi chạy bằng nguồn điện AC có tốc độ 600MHz thì khi chạy pin tốc độ còn 500MHz. Công nghệ PowerNow của AMD chạy CPU với những mức điện năng và tốc độ khác nhau, tuỳ thuộc nhu cầu của từng ứng dụng. Công nghệ nào sẽ tiết kiệm được nhiều năng lượng nhất thì còn phải chờ xem
conghieu8x
21-08-2007, 11:33 AM
SCI là viết tắt của cụm từ tiếng Anh Scalable Coherent Interface, được hiểu như sau:
- Scalable: Làm việc tốt đối với mạng có quy mô từ nhỏ đến lớn, kết nối theo mô hình kết nối liên thông Interconnect
- Coherent: Mối liên kết giữa các cache trong mạng có bộ nhớ phân tán là trong suốt đối với mọi CPU
- Interface: Giao diện kết nối với các nodes trong mạng (Interconnect nodes) hay với các sub-network không quá nghiêm ngặt, tương thích với nhiều topo mạng khác nhau.
SCI là một công nghệ mạng với hiệu năng truyền thông cao phục vụ xây dựng các Cluster tính toán song song, giao diện kết nối đơn giản (khe cắm theo chuẩn PCI), dễ nâng cấp mở rộng nhằm xây dựng các Cluster có topo mạng phức tạp để khai thác tối đa hiệu năng truyền thông, tương thích với nhiều kiến trúc siêu máy tính khác nhau.
Công nghệ truyền thông mà SCI sử dụng tương tự như công nghệ BUS trong các máy tính thông thường, với cơ chế đánh địa chỉ thông minh (giảm thiểu hiện tượng thắt cổ chai) cho phép các SCI Cluster có thể mở rộng lên hàng nghìn nodes mà không giảm hiệu năng truyền thông. SCI hỗ trợ nhiều topo mạng khác nhau như minh hoạ trên hình 2.
Mặc dù SCI hỗ trợ nhiều các topo mạng khác nhau nhưng topo 2D vòng được dùng rộng rãi nhất vì một số nguyên nhân:
- Dễ thiết lập, quản trị.
- Giải quyết tốt vấn đề truyền thông mạng.
- Phù hợp với cấu trúc lưới các tiến trình song song trong hệ thống Cluster.
Hiệu năng của SCI Cluster
Do điều kiện nghiên cứu còn nhiều khó khăn nên không thể xây dựng các SCI với nhiều topo mạng khác nhau nhằm đánh giá chính xác hơn về SCI. Để đưa ra đánh giá sơ bộ về SCI chúng tôi thực hiện đo hiệu năng của hệ thống và so sánh nó với Cluster sử dụng công nghệ Ethernet.
Như ta đã thấy ở trên thì SCI giải quyết rất tốt vấn đề truyền thông, để khai thác khả năng này SCI cho phép xây dựng các mạng LAN tốc độ cao sử dụng công nghệ SCI, đây cũng là một hướng phát triển hứa hẹn.
Còn rất nhiều điều để nói về SCI như kiến trúc phần cứng, giao diện lập trình SCI API, thực thi của các hàm truyền nhận thông điệp MPI trên nền SCI, giao thức truyền thông, cơ chế địa chỉ, thiết lập, quản trị mạng SCI,... Khuôn khổ bài báo chỉ đề cập cơ sở khoa học để lựa chọn SCI làm công nghệ mạng khi xây dựng Cluster, tầm quan trọng của SCI, cơ sở toán học minh họa vai trò của SCI. Đây là một công nghệ mới, điều kiện nghiên cứu còn khó khăn nên không tránh khỏi thiết sót, rất mong nhận được đóng góp, phê bình của các bạn